(Myiq.vn) – Đánh giá về vai trò của Hội Nông dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương khẳng định, với hơn 10 triệu hội viên và hệ thống tổ chức cơ sở rộng khắp, Hội thực sự là điểm tựa vững chắc, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp nông dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và phát triển đất nước bền vững.

Hội Nông dân Việt Nam đang trong những ngày hướng tới kỷ niệm 95 năm thành lập với nhiều dấu son vẻ vang. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng thực hiện các nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc?
– Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân, do Đảng và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Trong suốt chiều dài lịch sử, Hội luôn là lực lượng nòng cốt tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của hàng triệu nông dân, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, tổ chức tiền thân của Hội – Nông hội đỏ – đã ra đời trong cao trào Xô viết Nghệ – Tĩnh (1930–1931), tập hợp nông dân đấu tranh chống áp bức, giành quyền lợi ruộng đất. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hội Nông dân cứu quốc đã huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến kiến quốc, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, động viên toàn dân tăng gia sản xuất, bảo đảm lương thực cho kháng chiến.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hội đã trở thành lực lượng chính trị – xã hội vững mạnh, tổ chức hàng triệu hội viên vừa sản xuất vừa chiến đấu. Các phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Góp gạo nuôi quân”, “Xây dựng hậu phương vững mạnh” đã góp phần quyết định vào thắng lợi của dân tộc.
Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986, Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong việc tập hợp nông dân thực hiện khoán sản phẩm, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Những phong trào lớn như “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”, “Đoàn kết giúp nhau giảm nghèo và làm giàu chính đáng” đã lan tỏa sâu rộng, góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu, Hội Nông dân Việt Nam đã và đang tích cực triển khai các nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2022, tham gia xây dựng nông thôn mới nâng cao, chuyển đổi số trong nông nghiệp, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh.
Với hơn 10 triệu hội viên và hệ thống tổ chức cơ sở rộng khắp, Hội thực sự là điểm tựa vững chắc, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp nông dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và phát triển đất nước bền vững.

Theo ông, qua các giai đoạn cách mạng cả trong hai cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước sau này, bài học để có thể tập hợp được sức dân là gì?
– Nhìn lại chặng đường lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, cả trong hai cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, đặc biệt là trong gần 40 năm đổi mới, có thể khẳng định: sức dân chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Để tập hợp và phát huy được sức mạnh đó, chúng ta rút ra nhiều bài học sâu sắc.
Thứ nhất, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Từ những chủ trương “người cày có ruộng” trong kháng chiến, đến các chính sách đổi mới, cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định mục tiêu cao nhất là hạnh phúc của nhân dân. Khi lợi ích của dân được bảo đảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ vững bền.
Thứ hai, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông – trí thức, trong đó nông dân là lực lượng đông đảo nhất. Trong đấu tranh giành nền độc lập, đoàn kết là vũ khí mạnh nhất giúp ta chiến thắng mọi kẻ thù; trong xây dựng đất nước, đoàn kết tạo nên nội lực to lớn để phát triển bền vững.
Thứ ba, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Trong mọi thời kỳ, những quyết sách đúng đắn đều xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là khẩu hiệu mà đã trở thành cơ chế được thực hiện trong thực tiễn trong mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta.
Thứ tư, chăm lo nâng cao dân trí, phát triển kinh tế và bồi dưỡng năng lực làm chủ cho nhân dân. Khi người dân có tri thức, có điều kiện kinh tế, họ sẽ trở thành chủ thể sáng tạo, tự giác tham gia vào các phong trào, các chương trình phát triển.
Thứ năm, kết hợp hài hòa giữa truyền thống yêu nước, tự lực, tự cường với yêu cầu của thời đại mới. Ngày nay, việc tập hợp sức dân không chỉ dừng ở tinh thần đoàn kết truyền thống, mà còn phải gắn với khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.
Những bài học đó không chỉ là kinh nghiệm của quá khứ, mà còn là phương châm hành động cho hiện tại và tương lai. Khi dân tin, dân hiểu, dân đồng thuận, thì dù khó khăn thử thách đến đâu, chúng ta cũng sẽ vượt qua và giành thắng lợi.

Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, theo ông, những ưu tiên cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nên đi theo hướng nào để phát huy tối đa nguồn lực, tạo động lực cho nông dân tiếp tục phát triển sản xuất, đóng góp to lớn cho quá trình phát triển của đất nước?
– Trong bối cảnh mới, nước ta bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”, Đảng ta lãnh đạo thực hiện đồng thời cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (từ 01/7/2025); triển khai nhiều đột phá về thể chế, chính sách. Theo đó, lĩnh vực “tam nông” được định hình trong không gian phát triển mới, theo tinh thần vừa phát huy tối đa nguồn lực sẵn có trong nước và quốc tế, vừa tạo động lực mới cho phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách đất đai, tín dụng, chuyển đổi số, khoa học công nghệ, lao động và thị trường nông sản. Trong đó, ưu tiên tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách tiếp cận sử dụng đất đai trong sản xuất nông lâm thuỷ sản, khuyến khích phát triển sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân. Cùng với đó là mở rộng tiếp cận tín dụng ưu đãi, bảo hiểm nông nghiệp và thị trường tiêu thụ ổn định, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học – công nghệ trong nông nghiệp và quản lý nông thôn. Từ việc áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, tự động hóa, nông nghiệp chính xác, đến quản lý dịch vụ công trực tuyến ở nông thôn, tất cả nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp.
Thứ ba, phát triển kinh tế nông thôn đa dạng, không chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích dịch vụ, du lịch cộng đồng, làng nghề, công nghiệp chế biến và các ngành nghề phi nông nghiệp để mở rộng sinh kế, tăng thu nhập cho nông dân.
Thứ tư, tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng quản trị, tiếp cận thị trường, kỹ năng số cho nông dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ trở thành người làm chủ lực lượng sản xuất mới, sáng tạo, hội nhập.
Thứ năm, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu gắn với bảo vệ môi trường và bản sắc văn hóa. Đây không chỉ là hạ tầng vật chất mà còn là môi trường sống xanh, sạch, đáng sống, thu hút cả nguồn nhân lực trẻ quay về cống hiến.
Cuối cùng, mọi chính sách, ưu tiên cần đặt trong tổng thể phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, thích ứng biến đổi khí hậu. Khi nông dân thực sự được trao quyền, được hỗ trợ và có động lực, họ sẽ tiếp tục là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước, xứng đáng với vị trí chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã khẳng định.
Xin chân thành cảm ơn ông!
0 Comments