80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường: Đột phá chính sách đưa Việt Nam thành cường quốc xuất khẩu nông sản

(Myiq.vn) – Việt Nam từng là quốc gia trải qua đói nghèo, lạc hậu và phải nhập khẩu lương thực… nhưng bằng nhiều chính sách đột phá, giờ đây, đã vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Trong thành tựu đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường luôn đóng vai trò quan trọng, khẳng định vị trí là trụ đỡ của nền kinh tế.

Trong suốt 80 năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Đặc biệt từ khi đổi mới, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ trung bình 3,56% mỗi năm. Trong mỗi giai đoạn, ngành Nông nghiệp và Môi trường luôn thể hiện sứ mệnh, vai trò vô cùng quan trọng và cùng đất nước không ngừng phát triển.

Nhân kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Nông nghiệp và Môi trường (14/11/1945-14/11/2025), Báo điện tử Dân Việt đã có cuộc phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến.

– Nhìn lại chặng đường 80 phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường, xin Thứ trưởng có thể chia sẻ một vài kết quả nổi bật của ngành đã đạt được?

Trước 1975, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã góp phần không nhỏ vào thành công của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (giai đoạn 1945-1975), dù trong “mưa bom bão đạn” ác liệt, thiên tai hà khắc, nông nghiệp vẫn duy trì sản xuất; vừa sản xuất vừa chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “tay cày, tay súng”, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Hàng triệu héc-ta đất được khai hoang, hàng vạn công trình thủy lợi được nhân dân xây dựng, tạo nên kỳ tích “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Sau ngày thống nhất (năm 1975), trong điều kiện kinh tế khó khăn, kiệt quệ, hạ tầng bị tàn phá, Đảng và Nhà nước xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ trung tâm, ổn định đời sống nhân dân là ưu tiên hàng đầu. Ngành nông nghiệp đã nhanh chóng khôi phục sản xuất, củng cố cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển hợp tác xã, nông – lâm trường quốc doanh, triển khai các chương trình khai hoang, thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, trồng rừng. Đến cuối thập niên 1970, năng lực sản xuất lương thực cơ bản được phục hồi.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến.

Tuy nhiên, cơ chế quản lý tập trung bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, năng suất thấp, thiếu lương thực kéo dài. Từ thực tiễn đó, Đảng đã ban hành các chủ trương đổi mới trong nông nghiệp, như Khoán 100 (năm 1981) và Khoán 10 (năm 1988) – mở đầu cho bước chuyển căn bản trong cơ chế quản lý, khơi dậy tiềm năng của người nông dân. Nông nghiệp Việt Nam dần thoát khỏi thời kỳ đói nghèo, hướng tới tự chủ và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986, nông nghiệp Việt Nam có bước phát triển vượt bậc. Các chính sách mang tính đột phá, như Khoán 10 (năm 1988), Luật Đất đai (năm 1993), cùng các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng nông thôn mới… đã mở ra thời kỳ phát triển toàn diện. Từ chỗ thiếu ăn, phải nhập khẩu lương thực trong thập niên 1980, Việt Nam đã tự bảo đảm an ninh lương thực và trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Các mặt hàng, như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, thủy sản, rau quả… liên tục nằm trong nhóm 5 nước xuất khẩu lớn nhất toàn cầu, mang lại hàng chục tỷ USD mỗi năm.

Ba thập kỷ qua, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng gần 50 lần, đạt hơn 62,5 tỷ USD năm 2024, đưa Việt Nam vào top 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Đặc biệt, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (từ 2010) đã thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, hơn 78% xã đạt chuẩn, hạ tầng được cải thiện, đời sống người dân nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 4,06% (năm 2024). Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Có thể khẳng định, nông nghiệp đã trở thành trụ đỡ của nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Trong các giai đoạn khó khăn – khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1998), suy thoái kinh tế toàn cầu (2008-2009) hay đại dịch COVID-19 – nông nghiệp vẫn phát triển, giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng và ổn định xã hội.

– Từ một nước thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực, giờ đây, Việt Nam đã vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới. Thưa Thứ trưởng những yếu tố nào tạo ra bước đột phá trên?

Có được những thành tựu trên là do nhiều yếu tố nhưng quan trọng và cốt lõi nhất chính là yếu tố về thể chế, chính sách, về đường lối và tư duy của Đảng và Nhà nước.

Một số chính sách nổi bật có dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp và môi trường: Đầu tiên phải kể đến là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 của Bộ Chính trị (Nghị quyết 10) đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi giao khoán đất cho hộ gia đình, trao cho người nông dân quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh trên ruộng đất được giao trong thời gian dài. Luật Đất đai năm 1993 đã công nhận quyền sử dụng đất như một loại tài sản, cho phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn năm 2008 đặt ra chính sách phát triển toàn diện, từ hạ tầng nông thôn đến đào tạo nhân lực.

Từ nghị quyết của Đảng, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới bắt đầu năm 2009 đã góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt hơn 70% số xã trên cả nước.

Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp theo Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 đặt mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững thông qua chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, ngành hàng và vùng sản xuất, gắn với đổi mới tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời chú trọng bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và tăng cường liên kết chuỗi giá trị, nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2022 và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục khẳng định vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ một nước từng phải nhập khẩu lương thực, giờ đây, Việt Nam đã vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt gần 60 tỷ USD.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguồn lực của đất nước tiếp tục ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 định hướng cơ cấu lại kinh tế theo hướng hài hòa giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, sử dụng tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh và chống chịu, đảm bảo tính bao trùm và công bằng xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam và thế giới.

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2013 đã đề ra những quyết sách lớn trong ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở nước ta.

– Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đứng trước những vận hội mới của đất nước, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã và đang triển khai những quyết sách lớn nào thưa Thứ trưởng?

Trước yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển đất nước, ngày 01/3/2025, Quốc hội khóa XV đã quyết nghị hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong quản lý, khai thác và phát huy hiệu quả hơn các nguồn lực quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn và kỷ nguyên mới.

Ngay sau hợp nhất, Bộ đã nhanh chóng kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy theo mô hình chính quyền hai cấp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng nhiệm vụ chính trị được giao. Cùng với quá trình kiện toàn, ổn định tổ chức, công tác thi đua khen thưởng cũng được quan tâm, chỉ đạo sâu sát. Các phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2020-2025 tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ, tạo khí thế sôi nổi, cổ vũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vượt qua khó khăn, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19, đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ, ngành.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cùng Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chụp ảnh lưu niệm ở gian trưng bày 80 năm thành tựu của ngành Nông nghiệp và Môi trường tại lễ khai mạc Triển lãm thành tựu đất nước “80 năm hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, sáng 28/8.

Nhiều phong trào tiêu biểu đạt kết quả rõ nét, như: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; “Cả nước chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”; “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”; Hay phong trào Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bình dân học vụ số; chiến dịch: Làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai… đã trở thành động lực quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn Ngành; đóng góp thiết thực vào thành tựu chung trong giai đoạn hiện nay.

Bước vào giai đoạn phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, mục tiêu xuyên suốt của ngành đó là phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; bảo vệ, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, hạnh phúc.

Để thực hiện được mục tiêu ấy, toàn ngành cần quán triệt và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là định hướng chiến lược, là con đường tất yếu để phát huy sức mạnh nội sinh, khai thác tiềm năng, lợi thế, bảo đảm cho nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện, bền vững.

Cùng với đó, cần thực hiện nghiêm Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 3 tháng 01 năm 2023 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ mới; coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm chính trị của cả hệ thống, của từng cán bộ, đảng viên và mỗi người dân.

– Thưa Thứ trưởng, trước những biến động và thách thức từ bên ngoài, ngành Nông nghiệp và Môi trường cũng sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn, rào cản. Vậy, Bộ sẽ triển khai những nhiệm vụ, giải pháp đột phá nào để tiếp tục khẳng định vị trị là “trụ đỡ” của nền kinh tế, góp phần vào tăng trưởng 2 con số Chính phủ đã đề ra?

Trong giai đoạn 2026-2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại, thông qua việc thực thi các Hiệp định Thương mại tự do (FTA). Đứng trước xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng, trong thời gian tới đòi hỏi ngành phải chấp nhận cạnh tranh ngay cả trên sân nhà, phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn khắt khe về kinh tế, xã hội và môi trường do các nước đối tác đặt ra.

Bộ sẽ tập trung đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong đó, cải tiến giống cây trồng bằng công nghệ gen để tăng sức chống chịu với hạn hán, sâu, bệnh, mặn; sử dụng cảm biến, drone, AI, dữ liệu lớn để giám sát mùa vụ và tối ưu hóa canh tác; ứng dụng chuỗi khối và hệ thống truy xuất nguồn gốc để nâng cao tính minh bạch trong chuỗi cung ứng nông sản, kiểm soát an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và quốc tế.

Tăng đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ mới trong nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ưu tiên công nghệ sinh học, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; tạo cơ chế tài chính thông thoáng cho nghiên cứu khoa học – công nghệ và cho phép thương mại hoá sản phẩm khoa học công nghệ ra thị trường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao khoa học – công nghệ công lập, kết hợp đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, thực hiện khoán, đặt hàng sản phẩm khoa học – công nghệ, tạo đột phá về giống cây trồng, vật nuôi. Đổi mới công tác khuyến nông, khuyến công theo hướng kết hợp giữa nhà nước với doanh nghiệp; theo chuỗi ngành hàng, chuyển đổi số.

Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nông thôn; hỗ trợ khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; kết nối doanh nghiệp – nhà khoa học – nông dân. Thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các viện, trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Khuyến khích doanh nghiệp và người dân ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh và kết nối cung – cầu.

Tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; mở rộng sản xuất, kinh doanh, đa dạng hóa thị trường, tái cơ cấu mặt hàng, xây dựng và phát triển thương hiệu, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào khu vực nông nghiệp, nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường. Phát triển các làng nghề gắn với phát huy các giá trị văn hóa và bảo vệ môi trường.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số cần tiếp tục ưu tiên và coi là động lực quan trọng cho tăng trưởng giai đoạn tới. Tiếp tục rà soát, sửa đổi chính sách đất đai, đầu tư, thương mại, bảo hiểm, tín dụng, đảm bảo đúng pháp luật và hài hòa lợi ích lâu dài giữa doanh nghiệp, người nông dân, tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, hỗ trợ thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

Trong thương mại nông sản quốc tế, các tiêu chuẩn “xanh” ngày càng siết chặt, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, sản xuất bền vững, không phá rừng, không phát thải cao sẽ trở thành rào cản kỹ thuật bắt buộc đối với xuất khẩu vào các thị trường như: EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Xu hướng tất yếu là chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn, mở rộng các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp carbon thấp, xây dựng thương hiệu nông sản gắn với chỉ dẫn địa lý.

Cùng với đó, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên ngày càng tăng và yêu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt đang đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường. Mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đã trở thành xu thế toàn cầu và “luật chơi” mới trong thương mại, đầu tư quốc tế. Các nguy cơ về ô nhiễm xuyên biên giới, ô nhiễm dòng chảy, nguy cơ chuyển giao công nghệ lạc hậu vào Việt Nam cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hội nhập sâu về quản lý môi trường, tiệm cận với các nước phát triển.

Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác đang tác động sâu rộng, đe dọa ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Ngành Nông nghiệp và Môi trường cần nắm bắt cơ hội từ thích ứng với biến đổi khí hậu để chuyển dịch mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Xin cảm ơn Thứ trưởng vì cuộc trò chuyện thú vị này!

Post a Comment

0 Comments