(Myiq.vn) – Với hàng loạt quyết sách lớn, mang tầm chiến lược mở ra tư duy đột phá toàn diện từ thể chế quản trị đất nước, đến quản trị nền kinh tế trong nhiều thập niên tới, Việt Nam từ những năm 2026 trở đi đã, đang và sẽ đón nhận những cách nhìn mới, nể trọng mới từ thế giới và khu vực.
Trao đổi với PV Dân Việt ngày đầu xuân năm mới, TS Bùi Trinh, chuyên gia kinh tế độc lập khái quát: Trong năm 2025, Việt Nam đã ban hành 8 Nghị quyết chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, trong đó có 4 Nghị quyết về kinh tế như Nghị quyết 68 (về kinh tế tư nhân), Nghị quyết 57 (về khoa học công nghệ, Nghị quyết 79 (về kinh tế nhà nước), Nghị quyết 59 (về hội nhập quốc tế)… Bên cạnh đó, Việt Nam kiên trì cam kết giảm phát thải về 0% vào năm 2050 với lộ trình từ năm 2025. Do đó đây là những chính sách quan trọng, đặt nền móng cho đổi thay cấu trúc xương sống của vận động nền kinh tế.

Bộ tứ Nghị quyết: Cách mạng về tư duy phát triển
TS Bùi Trinh nhấn mạnh, nội hàm của các Nghị quyết đã được phân tích, làm sáng tỏ về đổi mới toàn diện, căn bản về động lực đổi mới nền kinh tế, trong đó lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính để phát triển đất nước, phát triển kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh; Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; Kinh tế Nhà nước là chủ đạo, tiên phong…. cùng với đó là tái cấu trúc bộ máy, tinh gọn bộ ngành, sáp nhập các địa phương….
“Phải khẳng định, đây là những cuộc “Cách mạng” về tư duy của Đảng trước vận mệnh của dân tộc. Bởi chúng ta đang đứng trong giai đoạn có tính chất bước ngoặt, tận dụng được chúng ta sẽ thành công, nếu không, sẽ đối diện với bài toán lớn về tăng trưởng thấp, gánh nặng an sinh lớn khi dân số già hoá. Những chính sách của Đảng được kỳ vọng sẽ thổi luồng sinh khí mới cho kinh tế Việt Nam đột phá trong giai đoạn tới”, T.S Trinh nói.
Cũng theo ông Trinh, bên cạnh các dự án chiến lược về hạ tầng giao thông, điện và hàng loạt các chính sách đặc thù, đặc biệt cho các đầu tàu kinh tế lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng “vượt giới hạn” để tăng tốc, bứt phá, Việt Nam còn thí điểm nhiều mô hình phát triển mới để hiện thực hoá khát vọng tăng trưởng cao khi chuẩn bị xây dựng các trung tâm kinh tế lớn như Trung tâm tài chính Đà Nẵng TP.HCM, Khu vực thương mại tự do Hải Phòng, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận…
“Những đổi mới căn bản về bộ máy hành chính như trong năm 2025 và hàng loạt cơ chế, chính sách chiến lược cho thấy Đảng đã nhìn ra những điểm nghẽn và cách thức hoá giải các điểm nghẽn, tìm ra động lực và lời giải về chủ trương, tư duy, chính sách. Từ nhận thức tư duy, chúng ta cần hiện thực hoá để có kết quả, hiệu lực”, ông Trinh cho hay.
Trong khi nhiều lĩnh vực, công trình và dự án băng băng về đích, đồng loạt khởi công và chuẩn bị “vào khuôn” cho đất nước giai đoạn tới, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn là nỗi lo lớn, nhất là chuyển đổi quản lý toàn xã hội bằng số hoá, khoa học trí tuệ.

Ở góc nhìn khác, trao đổi với PV Dân Việt, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải nhấn mạnh: Không thể phủ nhận nền kinh tế Việt Nam 40 năm sau đổi mới (Đại hội VI-1986) đã chuyển mình nhanh chóng. Nhưng chúng ta vẫn chỉ dựa vào các động lực cũ. Trong khi, hàm lượng giá trị gia tăng tự bản thân nền kinh tế chưa rõ nét, nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào khu vực nước ngoài, trong cả quy mô GDP lẫn thành tích xuất khẩu. Các nguồn lực khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo và năng suất lao động chưa rõ nét, thậm chí không có đóng góp nhiều vào đổi mới mô hình tăng trưởng.
“Chúng ta bắt buộc phải thay đổi mô hình tăng trưởng, phát triển và làm mới các động lực. Những mô hình cũ, động lực cũ đã tới hạn và không thể gia tăng cho nền kinh tế và xu hướng quốc tế không còn phù hợp”, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay.
Vị chuyên gia kinh tế đề cập đến các động lực mới, đổi mới mô hình tăng trưởng: Kinh tế thế giới thế kỷ XXI, các nước đi vào xu hướng cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với ứng dụng khoa học công nghệ, IoT, AI vào mọi mặt đời sống. Khoa học công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi kinh tế từ thâm dụng lao động, vốn sang tăng trưởng xanh, lấy khoa học, sáng tạo là động lực, lấy con người là chủ thể. Đó là cách thức tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên tới.
Giấc mơ chúng tôi: Việt Nam là Trung tâm Khoa học và Công nghệ toàn cầu
Chia sẻ cảm nghĩ về vận hội mới của mùa Xuân đất nước trong ngày mùng 3 Tết Bính Ngọ 2026, PSG.TS Lê Hoàng Sơn, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) cho rằng: Cách đây 10 năm, không ai nghĩ gửi bài lên các tạp chí, hội thảo uy tín trong SCIE/SSCI/SCOPUS cả, vì quá khó. Giờ đây đó là chuẩn mực trong các nghiên cứu. Cách đây hơn 5 năm, không ai nghĩ làm xong đề tài thì phải duy trì tiếp để thành sản phẩm để sống mãi trong cộng đồng. Đổi mới sáng tạo là khái niệm xa xỉ. Giờ đây đó là yêu cầu bắt buộc.

Cách đây hơn 3 năm, tiêu tiền nhà nước qua các dự án là ưu tiên hàng đầu của các tổ chức KHCN, không ai dại ra hợp tác doanh nghiệp vì yêu cầu dùng thật cao, lại ít tiền. Giờ đây đó cũng lại là điều bắt buộc.
“Xã hội ngày càng phát triển, quá trình tiến hóa ngày càng nhanh, nhà khoa học không thể mãi trẻ để suốt ngày ngồi nghiên cứu viết báo mà cần thay đổi để thích nghi và thực sự đóng góp cho KHCN”, ông Sơn nhấn mạnh.
Theo ông Sơn, khi nói đến Larry Page và Sergey Brin, không ai nhớ đến họ viết được bao nhiêu bài báo mà chỉ nhớ đây là tượng đài Google. Tương tự, không ai biết Mark Zuckerberg đã xin được bao nhiêu dự án NSF mà chỉ nhớ đến anh như là người biến mạng xã hội trở nên phổ biến như ngày nay.
Vị Phó Giáo sư cho rằng, với khoa học Việt Nam, giấc mơ lớn hơn là xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm khoa học công nghệ có uy tín toàn cầu, thu hút các nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước. Xa hơn nữa là tạo ra các công trình khoa học đẳng cấp thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa trí tuệ và công nghệ Việt Nam ra thị trường toàn cầu.
Còn theo ông Vũ Hoàng Liên – Chủ tịch Hiệp Hội Internet Việt Nam: “Doanh nghiệp Việt trước ngưỡng cửa kỷ nguyên công nghệ mới”.
Theo ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam, công nghệ là nền tảng cốt lõi của quá trình tái cấu trúc lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số. Nếu trước đây công nghệ chủ yếu hiện diện trong nhà xưởng, thì nay, cùng với công nghệ số, nó đã bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị doanh nghiệp – từ đầu vào, sản xuất, phân phối đến quản trị và chăm sóc khách hàng.
Đầu tư công nghệ không chỉ nhằm tăng năng suất hay giảm chi phí, mà còn tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là con người. Trong bối cảnh công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh, doanh nghiệp buộc phải chuyển hóa cả mô hình tổ chức lẫn năng lực nhân sự để thích ứng.

Ông Liên nhấn mạnh, nền tảng chuyển đổi phải bắt đầu từ công nghệ chuyên ngành – lĩnh vực cốt lõi của từng doanh nghiệp. Khi kết hợp với công nghệ số, các công nghệ này sẽ hình thành hệ thống vận hành chuẩn hóa, thông minh và dựa trên dữ liệu.
Ở tầm quốc gia, công nghệ số được xem là “hạ tầng của hạ tầng”, đóng vai trò liên kết và gia tăng giá trị cho các lĩnh vực khác. Minh chứng là Đề án 06, mô hình vận hành quy mô lớn trên nền tảng số, cho thấy công nghệ không chỉ nâng cao hiệu quả quản trị mà còn củng cố niềm tin và chất lượng môi trường kinh tế.
Nhìn về trung hạn, bức tranh công nghệ doanh nghiệp Việt Nam được dự báo tiếp tục chuyển dịch mạnh. AI sẽ tham gia sâu hơn vào khai thác dữ liệu, cá nhân hóa trải nghiệm và hỗ trợ thiết kế; hạ tầng dữ liệu và điện toán đám mây trở thành trọng tâm của chiến lược số; IoT và tự động hóa từng phần lan tỏa rộng rãi trong sản xuất. Cơ hội mở ra lớn, nhưng song hành là thách thức về logic hóa hệ thống, quản trị thông tin và xử lý khối dữ liệu khổng lồ.
Theo ông Vũ Hoàng Liên, bài toán cốt lõi không nằm ở việc “có công nghệ hay không”, mà ở năng lực làm chủ và tích hợp công nghệ vào chiến lược phát triển dài hạn. Trong kỷ nguyên số, doanh nghiệp nào chủ động chuyển hóa sớm, đầu tư đúng trọng tâm và xây dựng được đội ngũ nhân lực số chất lượng cao, doanh nghiệp đó sẽ nắm lợi thế trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt của nền kinh tế số.
Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ là trụ cột cho tăng trưởng
Trao đổi với PV Dân Việt, TS. Trần Khắc Tâm – Phó Chủ tịch Hội đồng các hiệp hội Doanh nghiệp ĐBSCL nhận định, năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước sự đan xen của cả thuận lợi và thách thức.
Tại Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026, Quốc hội xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP đạt từ 10% trở lên, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Dự báo năm 2026, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng 9 – 9,5% theo kịch bản cơ sở; trong kịch bản tích cực, mức tăng trưởng có thể đạt khoảng 10%, tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình. Các động lực tăng trưởng được dự báo sẽ được thúc đẩy cao hơn so với năm 2025, đóng góp vào tăng trưởng GDP chung cao hơn khoảng 0,3 – 0,5 điểm phần trăm so với năm trước.
Trong đó, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tiếp tục là động lực chủ yếu, đóng góp trên 90% vào tăng trưởng GDP, với mức tăng trưởng dự kiến 10 – 12%. Khu vực nông, lâm, thủy sản có thể đạt mức tăng 4 – 5,5% nhờ chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo TS. Trần Khắc Tâm, bên cạnh các động lực truyền thống, các động lực tăng trưởng mới như khoa học – công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, cùng với cải cách thể chế và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sẽ tạo hiệu ứng cộng hưởng, lan tỏa tích cực đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 – 2030.
Ước tính của nhóm nghiên cứu cho thấy, cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng cường tiết kiệm, chống lãng phí có thể giúp GDP tăng thêm ít nhất 0,8 – 1,2 điểm phần trăm. Đồng thời, hiệu quả đầu tư và năng suất lao động được nâng cao, với hệ số ICOR dự kiến giảm còn khoảng 4; tốc độ tăng năng suất lao động có thể đạt 7,5 – 8%, cao hơn khoảng 1 – 1,2 lần so với mức tăng của năm 2025.
0 Comments