“Hay cãi” - Di sản văn hóa trong máu người xứ Quảng

(Myiq.vn) – Không chỉ là nét tính cách, “tính hay cãi” của người xứ Quảng dường như đã trở thành một phần bản sắc văn hóa được di truyền qua nhiều thế hệ.

Không chỉ là nét tính cách, “tính hay cãi” của người xứ Quảng dường như đã trở thành một phần bản sắc văn hóa được di truyền qua nhiều thế hệ. Từ những câu chuyện dân gian, truyền thống phản biện của các bậc chí sĩ như Phan Châu Trinh, Phan Khôi…, cho đến thói quen nói thẳng, nghĩ sâu của người Quảng hôm nay, “cãi” không chỉ để hơn thua, mà là cách họ đi tìm lẽ phải, khẳng định trí tuệ và bản lĩnh của mình.

Chợ Hội An xưa.   Nguồn: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

Câu vè “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định nằm lo, Thừa Thiên ăn hết (hoặc “Thừa Thiên hốt sạch”) đã quá quen thuộc trong dân gian, đặc biệt là với những người con sinh ra lớn lên ở dải đất miền Trung đầy nắng gió và mưa giông.

Tất nhiên, không ai biết câu vè này có từ bao giờ, nhưng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng, ít nhất nó cũng phải xuất hiện khi việc tuyển bổ quan lại từ thời Minh Mệnh trở đi (vì tên gọi tỉnh Thừa Thiên chỉ có sau khi vua Minh Mệnh đổi tên mới vào năm 1822, trước đó tên cũ là doanh Quảng Đức – NV). “Quảng Nam hay cãi” dường như đã trở thành một mệnh đề, một “chân lý” bất biến, khẳng định tính cách nổi trội của người dân vùng đất “chưa mưa đã thấm”.

Một lần, khi trò chuyện về tính cách người xứ Quảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Mai Thúc Lân, một người con xứ Quảng, từng kể câu chuyện thú vị: Hội đồng Nhân dân ở một xã thuộc Quảng Nam có 16 đại biểu họp kỳ thứ nhất để bầu Chủ tịch UBND. Người được đề cử là một nữ đảng viên trẻ, có năng lực, đã qua công tác ở cơ sở và cũng là người duy nhất được giới thiệu. Lần bầu thứ nhất có 8 phiếu đồng ý, 8 phiếu chống, sau khi trao đổi, thảo luận bầu lần thứ hai vẫn 8 phiếu thuận, 8 phiếu chống, bầu lần thứ 3 cũng vẫn thế.

Ông Lân cười: Người xứ Quảng quê tôi “kiên định” đến thế là cùng! Rồi ông giải thích: 8 người chống không phải vì không ủng hộ ứng cử viên nữ kia, mà đơn giản “đã có 8 người ủng hộ rồi thì 8 người còn lại phải chống”. Rồi ông đùa: “Cậu cứ vào Quảng Nam dự một cuộc họp mà xem. Cứ người trước phát biểu xong, người sau đứng lên là nói ngược lại cái đã, chưa biết đúng sai thế nào”.

Xứ Quảng, vùng đất gồm Quảng Nam và Đà Nẵng, có lẽ là một trong những địa phương trải qua nhiều lần tách nhập nhất trong lịch sử hành chính Việt Nam. Năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam, biến nơi đây thành nhượng địa Tourane. Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Đà Nẵng lại sáp nhập với Quảng Nam, trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Đến năm 1997, hai địa danh một lần nữa chia tách, để Đà Nẵng vươn lên thành một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế, khoa học, giáo dục và du lịch của miền Trung.

Trung tâm hành chính Đà Nẵng sau khi hợp nhất với Quảng Nam. Ảnh: Viết Niệm

Sau gần ba thập kỷ phát triển độc lập, ngày 12/6/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15, quyết định sáp nhập tỉnh Quảng Nam và TP.Đà Nẵng, hình thành thành phố mới mang tên TP.Đà Nẵng, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển vùng đất này.

Trải qua bao biến động lịch sử, dù ranh giới hành chính thay đổi, tinh thần người xứ Quảng vẫn bền bỉ, kiên cường và sáng tạo, như dòng sông Thu Bồn dẫu quanh co vẫn đổ ra biển lớn. Để hiểu sâu hơn về vùng đất, văn hóa và con người nơi đây, Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với nhà văn, nhà báo Hồ Trung Tú, người con xứ Quảng, tác giả công trình nghiên cứu nổi tiếng “Có 500 năm như thế”.

Ông Hồ Trung Tú kể: “Chuyện xảy ra ở vùng Tân Bình, Sài Gòn thời Pháp thuộc, khi nơi đây còn thưa dân, mới có vài gia đình Quảng Nam vào lập nghiệp bằng nghề dệt. Một hôm, có người mẹ trở dạ khó, bà mụ đã làm hết cách nhưng đứa trẻ vẫn chẳng chịu ra. Bệnh viện thì chưa có, trời lại sắp tối, cả nhà cuống quýt không biết tính sao. Bỗng có ông thầy đồ đi ngang, thấy xôn xao liền ghé hỏi. Nghe kể xong, ông cười: “Tưởng chi, để tui.” Rồi ông bước vào buồng, nhìn quanh, bỗng quát lớn: “Mặt trời lên cây sào rồi kìa! Con trai con lứa gì mà ngủ nướng, hư quá!”.

Vừa dứt lời, trong buồng vang tiếng trẻ khóc oa oa. Cả nhà reo lên: “Con trai! Ông thầy giỏi quá!” Sau bữa cơm mừng, người ta hỏi bí quyết, ông thầy đồ thủng thẳng đáp: “Tui biết cả nhà người Quảng, mà dân Quảng thì hay cãi. Trời gần tối, tui nói đã sáng, hắn ngủ mấy cũng phải chui ra cãi chớ!” Cả nhà cười ngả nghiêng: “Đúng là thua dân Quảng Nam!”.

Đặc tính hay cãi của người xứ Quảng là vậy! Đến mức Mục sư Nguyễn Đình Liễu từng viết: “Trong thực tế, không nhiều thì ít, không có người Việt Nam nào mà không biết… cãi cả. Nhưng để cãi trở thành một tính cách vượt trội, không thể thiếu, thì phải nói… Ông Trời đã phú cho người Quảng Nam cái tính cách đó, đến nỗi nó trở thành như… gen di truyền trong máu của người Quảng Nam quê tôi rồi vậy”.

Tôi đem những chuyện này kể cho nhà văn Hồ Trung Tú. Ông Tú lý giải: “Nhiều người từng bàn về “tính hay cãi” của người Quảng Nam. Có người cho rằng điều đó bắt nguồn từ bốn nguyên nhân chính: Khí hậu khắc nghiệt, lịch sử lưu đày tội nhân, ảnh hưởng văn hóa Chăm, và… nước uống.

Lý giải đầu tiên – môi trường sống: Nghe có vẻ hợp lý. Miền Trung nắng gió, bão lũ triền miên, con người phải mạnh mẽ mới tồn tại, lâu dần thành tính cách quyết liệt, thẳng thắn. Tuy nhiên, nếu so với Quảng Bình hay Quảng Trị, những vùng còn gian khổ hơn, thì người dân nơi ấy lại nổi tiếng hài hước, lạc quan chứ không “hay cãi”.

Giả thuyết thứ hai: vùng đất lưu đày tội nhân, tụ hội dân tứ xứ, cũng khó đứng vững. Bởi nếu vậy, những miền đất từng đón dân phiêu tán, như Nam Bộ, lẽ ra cũng phải mang đặc tính “gân guốc” ấy, nhưng thực tế lại hiền hòa, cởi mở hơn nhiều.

Giả thuyết thứ ba – chịu ảnh hưởng của người Chăm: dường như có phần thuyết phục hơn. Nguyễn Trãi từng viết trong Dư địa chí: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính tình hung hãn, quen khổ sở.” Suốt gần 500 năm, từ 1306 đến 1802, hai tộc người Việt – Chăm sống xen kẽ, giao thoa và cũng cạnh tranh nhau để bảo tồn bản sắc. Trong quá trình ấy, người Việt vùng Quảng có thể đã tiếp thu phần “ăn sóng nói gió”, cương trực, bộc trực của người Chăm. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào đó thì cớ sao các vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vốn là trung tâm người Chăm lâu hơn, lại không nổi bật cùng tính khí ấy?

Còn giả thuyết về “nước uống” thì chỉ là một cách nói vui dân gian. Nếu đúng vậy, khoa học ngày nay hoàn toàn có thể xác định nguyên nhân qua thành phần khoáng chất, nhưng hiển nhiên chẳng có mối liên hệ nào giữa sắt, đồng hay chì với… độ to tiếng khi tranh luận.

Vì thế, có lẽ “tính hay cãi” không phải khuyết điểm mà là biểu hiện của một vùng đất từng trải qua năm thế kỷ giao hòa văn hóa, lịch sử đầy thử thách. Trong môi trường ấy, chỉ những ai có bản lĩnh, có chính kiến, dám bảo vệ điều mình tin mới có thể tồn tại. Người Quảng Nam “hay cãi” không phải vì thích hơn thua, mà vì họ quen suy nghĩ, quen tranh luận, để đi đến cùng của lẽ phải”.

Trong cuốn “Đã có 500 năm như thế” ông có lý giải về hai tộc người Chăm – Việt sống cạnh nhau, tôn trọng, hòa hiếu hay không tùy theo từng thời. Ông có thể nói rõ hơn cái sự ở cạnh nhau này không ? Vì theo tôi biết lâu nay mọi người đều nghĩ rằng khi người Việt đến thì người Chàm đã bỏ đi cả hoặc chỉ là số ít ở lại, hoặc đã có xảy ra những cuộc tàn sát lớn mà chỉ còn lại là phụ nữ?

– Vấn đề người Chàm ở lại hay ra đi khi người Việt tiến vào vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Trong tư duy phổ biến, thậm chí cả trong một số công trình học thuật, quan niệm “người Việt đến thì người Chàm bỏ đi cả” gần như đã thành mặc định. Những ghi chép trong “Đại Việt sử ký toàn thư” hay gia phả địa phương cũng có câu “khi người Việt đến thì người Chàm bỏ đi cả”. Tuy nhiên, nếu khảo sát kỹ hơn về không gian và thời gian, nhận định ấy bộc lộ nhiều khiếm khuyết.

Từ năm 1306, khi Huyền Trân công chúa gả cho vua Chiêm, đến 1602, khi Nguyễn Hoàng lập dinh trấn Thanh Chiêm, vùng đất Quảng Nam đã trải qua gần 300 năm biến động, lúc thuộc Đại Việt, khi lại rơi vào tay Chiêm Thành. Trong quãng thời gian dài ấy, việc người Chàm di cư, trở lại hay ở lại diễn ra nhiều lần, chứ không thể chỉ một lần duy nhất rồi “bỏ đi cả”. Nếu có sự rời đi, thì có lẽ chủ yếu là tầng lớp quý tộc, trí thức hoặc những người có liên hệ chính trị với vương triều Chiêm; còn đại bộ phận nông dân, ngư dân, vốn gắn bó với ruộng đồng, sông nước quê hương, không có lý do gì để rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn.

Sự thay đổi chính quyền khi ấy diễn ra chậm chạp và không đồng đều. Có khi ở Thanh Chiêm đã lập dinh, mà vùng trung du Duy Xuyên, Đại Lộc vẫn chưa hay biết. Lịch sử cận đại Việt Nam từng chứng kiến điều tương tự: trong những năm 1945 – 1955, nhiều vùng nông thôn hầu như không biết chính quyền đã đổi chủ bao nhiêu lần.

Cuốn sách “Có 500 năm như thế” của nhà Văn Hồ Trung Tú.

Ngay cả xét về mặt logic, nếu “người Chàm bỏ đi cả”, thì người Việt tiếp thu được gì từ văn hóa Chàm? Một nền văn hóa rực rỡ không thể truyền lại nếu chủ thể của nó hoàn toàn biến mất. Sử liệu cũng cho thấy sự giao lưu ấy là hiện thực. Năm 1499, vua Lê Hiến Tông ban chiếu cấm người Việt lấy vợ Chiêm Thành – điều đó chứng tỏ việc hôn phối Việt – Chăm từng phổ biến đến mức phải ngăn chặn.

Người Chàm tất nhiên không chỉ có “đàn bà con gái”. Nếu nhiều thế kỷ sau, gia phả các họ Quảng Nam vẫn ghi chuyện đàn ông Việt lấy vợ Chăm, thì rõ ràng vẫn còn những cộng đồng Chăm tồn tại, sinh sôi và duy trì bản sắc.

Trong các địa bạ thời Gia Long, Minh Mạng, nhiều làng ở đồng bằng Quảng Nam vẫn mang tên “Man”, “Sách”, dấu vết của cư dân Chăm bản địa. Đặc biệt, bản đồ xuất bản tại Hà Lan năm 1760 ghi riêng Quảng Nam là “Tỉnh Ciam” (Tỉnh Chàm), cho thấy người Chàm ở đây không hề ít. Tư liệu về thời Tây Sơn cũng xác nhận quân đội Tây Sơn có đông người Chàm tham gia.

Tất cả cho thấy: người Chàm không hề biến mất khỏi đất Quảng Nam, mà đã ở lại, hòa nhập, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa, địa danh, phong tục, thậm chí trong dòng máu của cư dân nơi đây.

Có nhiều lý giải về nguyên nhân hình thành tính cãi của người Quảng. Trong công trình “Có 500 năm như thế”, ông cũng có một phân tích riêng. Xin ông chia sẻ về nghiên cứu của mình?

– Nhiều tư liệu cho thấy, đến năm 1802 – khi Gia Long lên ngôi, ở vùng Đà Nẵng – Quảng Nam vẫn còn nhiều làng Chăm sinh sống. Dù đã mất chủ quyền gần 500 năm, họ vẫn bảo tồn được ngôn ngữ, y phục, phong tục và tín ngưỡng của mình. Điều đó chứng tỏ người Chăm có ý thức sâu sắc về bản sắc văn hóa, và họ đã kiên quyết gìn giữ nó, có lẽ bằng chính thái độ phản biện, thậm chí đối kháng với những gì khác biệt.

Các khảo sát cho thấy trong nhiều thế kỷ, người Chăm và người Việt sống xen kẽ nhau, làng này cách làng kia chỉ một cánh đồng, một con bàu hay một con đường nhỏ. Họ cùng làm ruộng, cùng ra chợ, cùng nghe tiếng trống lễ hội của nhau, và cũng vì thế mà va chạm văn hóa diễn ra liên miên suốt nửa thiên niên kỷ.

Chiếu Bình Chiêm còn ghi: “Bọn búi tóc dùi”, “Nó cấm dân ta mổ thịt”, những câu chữ phản ánh xung đột giữa hai lối sống. Người Việt giết bò trong lễ hội, người Chăm tôn thờ bò; người Việt trọng “tam tòng tứ đức”, còn phụ nữ Chăm nắm quyền trong gia đình, tự do nhảy múa lễ hội. Người Việt tôn Phật, còn người Chăm tôn Siva và Visnu. Họ cãi nhau, bảo vệ niềm tin của mình, và chính sự “cãi nhau” ấy là một cách khẳng định bản sắc, là bản năng sinh tồn của văn hóa.

Đến triều Gia Long và đặc biệt thời Minh Mạng, khi chính sách “đồng văn, đồng giáo, đồng phong tục” được áp đặt, văn hóa Champa dần lùi xa. Nhưng có lẽ, thói quen tranh luận, tinh thần phản biện ấy đã thấm vào máu người vùng đất này.

Tuy nhiên, nếu cho rằng “tính hay cãi” của người miền Trung bắt nguồn hoàn toàn từ xung đột Chăm- Việt thì giả thuyết này cần được kiểm chứng. Bởi sau hơn 200 năm, khi sự đối kháng văn hóa không còn, điều gì đã khiến tinh thần ấy tiếp tục được di truyền qua nhiều thế hệ?

Theo ông còn gì có thể tác động và ảnh hưởng đến tính hay cãi của người Quảng Nam ngoài xung đột văn hoá thoạt nghe đã rất hợp lý đó?

– Ngôn ngữ, có lẽ, là chiếc chìa khóa mở ra nhiều bí ẩn của tính cách con người. Tôi đồ rằng, chính giọng nói và cách biểu đạt của phương ngữ Quảng Nam đã góp phần hình thành nên cá tính người Quảng. Giả định ấy thoạt nghe có vẻ vu vơ, nhưng càng quan sát càng thấy có lý: Trong giọng nói khô, nặng, gãy gọn ấy, dường như chứa đựng cả một lịch sử văn hóa từng bị đứt đoạn rồi tái sinh.

Trong nhiều chuyến về quê, nghe những bà mẹ, bà chị nói chuyện, tôi chợt nhận ra vốn từ của họ nghèo nàn đến khó tin. Danh từ thì đủ đầy, nhưng tính từ, trạng từ, những từ gợi sắc thái tinh tế, lại hiếm hoi. Những cách nói như điêu, tinh tướng, ra phết, lấp lánh… mà người Bắc hay Trung khác dùng tự nhiên, thì người Quảng Nam hầu như không có. Họ thường thay bằng những cụm mơ hồ như “cái này cái nọ”, “nói chung là…”.

Tại sao lại vậy? Câu trả lời nằm ở quá khứ: Người Chăm xưa đã từ bỏ tiếng mẹ đẻ để nói tiếng Việt. Khi ngôn ngữ thay đổi, âm sắc và vốn từ cũng mất mát, khiến tiếng Quảng Nam trở nên khô hơn, ít tính biểu cảm hơn so với vùng Bắc bộ.

Có lẽ chính sự thiếu hụt ấy góp phần tạo nên tính cách người Quảng: “Ăn cục nói hòn”, “thẳng ruột ngựa”, bộc trực và dễ nóng. Khi ngôn ngữ không đủ tinh tế để diễn đạt cảm xúc mềm mại, con người buộc phải chọn cách nói thẳng, lấy sự trung thực bù cho sự uyển chuyển. Nói thẳng dễ thành gay gắt, chân thành dễ thành nóng nảy, và đó là mầm mống của “tính hay cãi”, nét đặc trưng nổi tiếng của người Quảng Nam.

Có người cho rằng “hay cãi” là biểu hiện của tinh thần phản biện, của dòng máu Phan Châu Trinh, Phan Khôi. Nhưng thực ra, canh tân không đến từ cãi, mà từ tư duy độc lập. Cãi chỉ nảy sinh khi người ta bất đồng vì cách nói, không vì điều nói.

Phải chăng chính sự thô ráp trong biểu cảm, cộng với di sản ngôn ngữ chuyển tiếp từ người Chăm, đã hun đúc nên bản sắc Quảng Nam: nói ít, nghĩ thật, cãi nhiều, mà sâu trong đó, vẫn là tinh thần thẳng thắn, trung thực và kiêu hãnh của một vùng đất từng chịu nhiều biến động.

Trong câu chuyện với tác giả “Có 500  năm như thế”, tôi bỗng nhớ tới, người xứ Quảng không chỉ “hay cãi” mà còn một đặc sản khác ít ai bì kịp, đó là nói lái. Trong đời sống thường nhật, từ những buổi chợ quê, quán cà phê đầu ngõ cho đến chốn công sở, bàn tiệc, người Quảng Nam – Đà Nẵng vẫn “xuất khẩu” thành… nói lái một cách tự nhiên, như một thói quen ngấm vào máu. Dường như với họ, khả năng chơi chữ, bẻ âm, đảo nghĩa không chỉ là trò tiêu khiển, mà là một nét văn hóa dân gian đặc sắc, vừa hóm hỉnh vừa sâu cay, thể hiện trí tuệ và óc quan sát tinh tế.

Có lẽ do người Quảng thường phát âm sai, hoặc “lệch chuẩn” đôi chút, nên chính đặc điểm ấy lại tạo nên mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật nói lái phát triển. Chuyện “ăn cơm trước kẻng” của một chàng trai xứ Quảng chẳng hạn, đã được nhà thơ Dương Quốc Thanh (bút hiệu Sơn Hồ) khéo léo hóa giải bằng bài thơ đầy dí dỏm, vừa tế nhị vừa nhân văn: “Ai bàn chi chuyện đã an bài/Trai khiển đồng tình gái triển khai… Thôi đành để chúng được thành đôi.” Chỉ với vài câu thơ nói lái tinh tế, ông biến chuyện lỡ lầm thành chuyện vui, khiến cả hai bên gia đình đều bật cười mà nguôi giận.

Thi sĩ Bùi Giáng, người con lập dị và tài hoa của đất Quảng, cũng là bậc thầy trong lối nói lái. Ông “bán dui” (tức “Bùi Giáng” nói lái) không chỉ nói lái để chọc cười, mà biến nó thành một thứ triết học ngôn ngữ. Những cụm từ “tồn lí tí ngọ”, “tồn lập tập trung”, “tồn lập tập hợp” của ông, nghe rối rắm mà lại gợi mở một thế giới ngôn ngữ phi logic, vừa hư vừa thực.

Trong thơ ông, những vần “ôn” đi với phụ âm “l” như: “Vườn trần gian có hoang liêu/Cồn lau lách cũng có liều lĩnh hang”, hay “Úp môi ôm mặt khóc òa/Cồn lê lên miệng là ba bốn lần”, đều mang âm hưởng vừa ngộ nghĩnh vừa u hoài, như chính con người xứ Quảng: thông minh, ngang tàng mà sâu sắc.

Xứ Quảng từng sản sinh nhiều nhân sĩ, trí thức can trường và kiệt xuất trong lịch sử. Đầu thế kỷ XX có “bộ ba” Phan Châu Trinh – Trần Quý Cáp – Huỳnh Thúc Kháng, những người dám nghĩ, dám làm, dám nói ngược dòng thời thế. Nhưng nếu nói đến “thầy cãi” nổi tiếng nhất, người ta lại nhắc đến cụ Phan Khôi, một trí thức độc lập, bậc tiên phong của tư duy phản biện. Ông có thể nói rõ hơn về khí chất, về “cái cãi” đầy bản lĩnh và trí tuệ của cụ Phan Khôi?

– Cụ Phan Khôi không chỉ nổi tiếng là người hay cãi, mà còn là người cãi đến cùng, bằng lý lẽ, tri thức và bản lĩnh. Ở ông, “cãi” không phải là gây sự, mà là một thái độ phản biện quyết liệt, dám đối diện với những vấn đề học thuật, văn hoá, chính trị gai góc của thời đại. Trước Cách mạng Tháng Tám, Phan Khôi đã là một ngòi bút sôi nổi trên mặt trận báo chí, sẵn sàng thách thức những quan điểm được xem là chính thống.

Một ví dụ tiêu biểu là cuộc tranh luận với Lê Dư về khái niệm “quốc học”. Trong bài “Luận về quốc học” đăng trên “Phụ nữ tân văn” (số 94) và “Đông Tây” (số 96, 97), ông thẳng thắn đặt câu hỏi: “Cái học của nước ta từ trước có thể gọi là quốc học được không?” và trả lời dứt khoát: Không. Ông khẳng định, nếu chỉ vì tình cảm bạn bè hay nể nang mà chấp nhận quan điểm sai, thì là phản bội “chơn lý” của học thuật.

Cuộc “cãi” với Huỳnh Thúc Kháng cũng nổi tiếng không kém. Khi Phan Khôi cho rằng nước Pháp từng có lúc giúp nước Nam, Huỳnh Thúc Kháng phản bác. Hai người “bút chiến” gay gắt trên các báo “Đông Pháp thời báo”, “Tiếng Dân”, “Trung Lập”. Phan Khôi thậm chí dùng biểu ngữ “thương xót cùng Mính Viên” để chỉ ra những điểm ông cho là “thất thiệt” trong lập luận của đối phương.

Ngay cả trong cuộc tranh luận lớn về Truyện Kiều, giữa Phạm Quỳnh, người xem Kiều là “quốc hồn quốc túy”, và Ngô Đức Kế, người phản đối việc tôn sùng mù quáng, Phan Khôi cũng nhập cuộc. Từ “Phụ nữ tân văn” ở Sài Gòn, ông lên tiếng phê phán những quan điểm “thiếu tự vấn và lu mờ lý trí”, bảo vệ tinh thần tỉnh táo trong phê bình văn hóa.

Trong cái “cãi” của Phan Khôi có ba phẩm chất nổi bật: Kiên định với lý lẽ cá nhân, không khuất phục trước áp lực hay tình cảm riêng tư. Tri thức uyên bác, chống lại sự hời hợt và giáo điều. Tinh thần đối thoại sòng phẳng, dám “cãi tay đôi với vai trên”, chấp nhận thiệt thòi để giữ chân lý.

Khi nhiều người e ngại động chạm đến các “tượng đài học thuật”, Phan Khôi chọn bước vào vùng tranh tối tranh sáng của tư tưởng. Cái “cãi” của ông không nhằm thắng thua, mà là để giữ sự liêm chính của trí tuệ, thứ khí chất hiếm có làm nên một Phan Khôi độc đáo, thẳng thắn và không thể thay thế.

Không chỉ trong quá khứ, đất Quảng mới sinh ra những bậc nhân sĩ, trí thức và các nhà cách mạng dũng cảm vô song, mà ngay trong thời hiện đại, vùng đất “chưa mưa đã thấm” này vẫn tiếp tục sản sinh nhiều người con ưu tú, góp phần làm rạng danh quê hương xứ sở.

Từ trái qua: Đồng chí Võ Chí Công – nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước), Đồng chí Phan Diễn – nguyên Thường trực Ban Bí thư, Đồng chí Mai Thúc Lân – nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Nguyễn Bá Thanh – nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương. Ảnh nền: Quảng trường 24/3 (phường Tam Kỳ) nhìn từ trên cao. Ảnh: Hưng Hiền.

Từ những năm đầu của công cuộc đổi mới cho đến hôm nay, dấu ấn của người Quảng hiện diện rõ rệt trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật. Những cái tên như Võ Chí Công, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước), Phan Diễn, nguyên Thường trực Ban Bí thư, Mai Thúc Lân, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương, hay Trương Quang Nghĩa – nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải… đều là những người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân.

Họ không chỉ là niềm tự hào của người xứ Quảng mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, hiếu học, nghĩa khí và luôn dấn thân vì dân, vì nước. Ở họ hội tụ phẩm chất “chịu thương, chịu khó, nói ít, làm nhiều” – vốn đã trở thành căn cốt của người Quảng Nam. Và chính từ truyền thống ấy, những thế hệ kế tiếp hôm nay vẫn tiếp tục thắp lên ngọn lửa cống hiến, để quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng mãi là vùng đất của hiền tài, của khát vọng vươn lên và phụng sự Tổ quốc.

Xin hỏi ông câu cuối cùng: Với tính hay cãi, vốn được xem là đặc sản của người Quảng, theo ông, điều này ảnh hưởng như thế nào trong cuộc sống, đặc biệt là trên con đường phát triển sự nghiệp của những người con xứ Quảng khi làm ăn, sinh sống ở các vùng miền khác?

Cái “cãi” của người Quảng, trước hết, bắt nguồn từ tinh thần phản biện, từ truyền thống khát vọng học hỏi, dám nói, dám tranh luận để tìm ra chân lý. Trong môi trường làm việc, tính cách ấy giúp họ năng động, thẳng thắn, không ngại bày tỏ quan điểm, dám bảo vệ cái đúng và đấu tranh với cái sai. Đó là sức mạnh tạo nên nhiều nhân tài xứ Quảng nổi danh trên các lĩnh vực: chính trị, khoa học, giáo dục, kinh doanh.

Tuy nhiên, mặt hạn chế là sự “cứng đầu” hoặc biểu hiện quá trực tính trong giao tiếp có thể khiến người Quảng dễ bị hiểu lầm là cố chấp, khó dung hòa. Đặc biệt, khi sinh sống ở các vùng miền khác, rào cản ngôn ngữ, phương ngữ và cách diễn đạt có thể khiến họ bị thiệt thòi trong môi trường làm việc tập thể. Chẳng hạn, do đặc điểm tiếng Quảng ít sử dụng lượng từ, cách nói ngắn gọn, sắc gắt đôi khi bị cảm nhận là thiếu mềm mại.

Vì vậy, cùng với việc gìn giữ bản sắc ngôn ngữ, người Quảng cần chú trọng rèn luyện khả năng diễn đạt, tăng cường vốn từ, nhất là trong giáo dục phổ thông. Việc đưa các bài học địa phương hoá, khuyến khích học sinh mở rộng vốn ngôn ngữ và cách diễn đạt sẽ giúp thế hệ trẻ xứ Quảng phát huy được cái “cãi” tích cực, tức là tinh thần phản biện, mà không đánh mất sự hài hòa, tinh tế trong giao tiếp và ứng xử.

Xin cám ơn ông vì cuộc trò chuyện này!

Nhà văn Hồ Trung Tú sinh năm 1958, quê Đại Lộc, Quảng Nam (nay là TP. Đà Nẵng). Ông tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du khóa 3. Từng công tác tại báo Sài Gòn tiếp thị. Là tác giả của nhiều bài báo, đã từng xuất bản tập truyện ngắn “Búp bê cho người lớn” vào năm 1987. Cuốn sách “Có 500 năm như thế” xuất bản năm 2011, tái bản năm 2012 với một số sửa chữa, thay đổi, do NXB Thời Đại và Phương Nam book ấn hành.

Post a Comment

0 Comments