(Myiq.vn) – Muốn đột phá trở thành nước có thu nhập cao, phát triển trong 10-20 năm tới, Việt Nam phải duy trì tăng trưởng cao, kéo dài và bền vững. Đây là đòi hỏi khách quan, lẫn chủ quan để nền kinh tế bứt phá sau nhiều năm tích luỹ. Tuy nhiên, để thực hiện tăng trưởng cao kéo dài trong 1 đến 2 thập kỷ không phải chuyện đơn giản, đòi hỏi một nền kinh tế phải “làm mới các động lực tăng trưởng”, “đột phá về thể chế” và chủ động đi vào các xu hướng phát triển mới của thế giới.

“Hiện thực hoá” đổi mới động lực, mô hình tăng trưởng
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, muốn tăng trưởng cao, đột phá và bền vững, Việt Nam phải tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế trong đó phải thực hiện 2 nhiệm vụ: “Làm mới động lực” và “Đổi mới mô hình tăng trưởng”.
Theo Báo cáo 2035 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ KH&ĐT (nay là Bộ Tài chính): Mô hình và cấu trúc kinh tế Việt Nam giai đoạn 40 năm qua kể từ khi Đổi mới đến nay dựa chủ yếu vào tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào khai thác lợi thế tài nguyên, lao động giá rẻ, thâm dụng vốn, vị trí địa lý. Tốc độ tăng trưởng bình quân từ 5,5% đến trên 7,5% đã giúp nền kinh tế Việt Nam tích luỹ và xây dựng nền tảng, tuy nhiên vẫn còn yếu.
Giai đoạn 2005-2025, 20 năm chưa năm nào Việt Nam có tăng trưởng hai con số, cao nhất năm 2022 với tăng trưởng trên 8,2%, nhưng trên nền tảng tăng trưởng năm 2021 rất thấp do đại dịch Covid-19 toàn cầu. Hầu hết các năm, tăng trưởng của Việt Nam chỉ 5,5% đến 7,8% là cao nhất.
Chính vì vậy, muốn đột phá tăng trưởng 2 con số, đòi hỏi chúng ta cần tìm mới các động lực, đổi mới căn bản mô hình tăng trưởng vốn đã vận hành suốt nhiều thập kỷ qua. Đây là bài toán khó và cần lời giải sớm để chủ động tạo động lực cho đất nước phát triển và tận dụng xu hướng AI (Trí tuệ nhân tạo – AI), robot hoá, (Internet vạn vật – IoT), (kinh tế số, kinh tế dữ liệu – Data economic) đang tràn ngập trên thế giới và xoay chuyển toàn cục vận động của nền kinh tế toàn cầu.
Trao đổi với PV, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhấn mạnh: Không thể phủ nhận nền kinh tế Việt Nam 40 năm sau đổi mới (Đại hội VI-1986) đã chuyển mình nhanh chóng. Nhưng chúng ta vẫn chỉ dựa vào các động lực cũ. Trong khi, hàm lượng giá trị gia tăng tự bản thân nền kinh tế chưa rõ nét, nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào khu vực nước ngoài, trong cả quy mô GDP lẫn thành tích xuất khẩu. “Chúng ta bắt buộc phải thay đổi mô hình tăng trưởng, phát triển và làm mới các động lực. Những mô hình cũ, động lực cũ đã tới hạn và không có thể gia tăng cho nền kinh tế và xu hướng quốc tế không còn phù hợp”, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay.
Thực tế, trong năm 2025, Việt Nam đã ban hành 8 Nghị quyết chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, trong đó có 4 Nghị quyết về kinh tế như Nghị quyết 68 (về kinh tế tư nhân), Nghị quyết 57 (về khoa học công nghệ, Nghị quyết 79 (về kinh tế nhà nước), Nghị quyết 59 (về hội nhập quốc tế)… Bên cạnh đó, Việt Nam kiên trì cam kết giảm phát thải về 0% vào năm 2050 với lộ trình từ năm 2025, do đó đây là những chính sách quan trọng, đặt nền móng cho đổi thay cấu trúc xương sống của vận động nền kinh tế.
Xoá điểm nghẽn và những thách thức
Chia sẻ với PV, TS Bùi Trinh, chuyên gia kinh tế độc lập, nhấn mạnh, nội hàm của các Nghị quyết đã được phân tích, làm sáng tỏ về đổi mới toàn diện, căn bản về động lực đổi mới nền kinh tế, trong đó lấy Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính để phát triển đất nước, phát triển kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh; Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; Kinh tế Nhà nước là chủ đạo, tiên phong…. cùng với đó là tái cấu trúc bộ máy, tinh gọn bộ ngành, sáp nhập các địa phương….
“Phải khẳng định, đây là những cuộc “cách mạng” về tư duy của Đảng trước vận mệnh của dân tộc, bởi chúng ta đang đứng trong giai đoạn có tính chất bước ngoặt, tận dụng được chúng ta sẽ thành công, nếu không, sẽ đối diện với bài toán lớn về tăng trưởng thấp, gánh nặng an sinh lớn khi dân số già hoá. Những chính sách của Đảng được kỳ vọng sẽ thổi luồng sinh khí mới cho kinh tế Việt Nam đột phá trong giai đoạn tới”, TS. Trinh nói.

Cũng theo ông Trinh, bên cạnh các dự án chiến lược về hạ tầng giao thông, điện và hàng loạt các chính sách đặc thù, đặc biệt cho các đầu tàu kinh tế lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng “vượt giới hạn” để tăng tốc, bứt phá, Việt Nam còn thí điểm nhiều mô hình phát triển mới để hiện thực hoá khát vọng tăng trưởng cao khi chuẩn bị xây dựng các trung tâm kinh tế lớn như Trung tâm tài chính Đà Nẵng TP.HCM, Khu vực thương mại tự do Hải Phòng, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận…
“Những đổi mới căn bản về bộ máy hành chính như trong năm 2025 và hàng loạt cơ chế, chính sách chiến lược cho thấy Đảng đã nhìn ra những điểm nghẽn và cách thức hoá giải các điểm nghẽn, tìm ra động lực và lời giải về chủ trương, tư duy, chính sách. Từ nhận thức tư duy, chúng ta cần hiện thực hoá để có kết quả, hiệu lực”, ông Trinh cho hay.
Theo TS Bùi Quý Thuấn, Giảng viên Đại học Phenikaa: Thách thức về chuyển đổi số với Việt Nam là nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của dữ liệu còn chưa đầy đủ, tổ chức triển khai thực hiện còn yếu. Trong liên thông dữ liệu của cơ quan Nhà nước vẫn còn hạn chế, thiếu hợp tác và đặc biệt xuất hiện tình trạng “cát cứ” dữ liệu.
“Hiện Việt Nam thiếu quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ, nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn áp dụng quy trình thu thập dữ liệu thủ công, chưa tự động hóa… Mặc dù có những chủ trương, định hướng lớn, song mới chỉ dừng lại ở chính sách, cần cụ thể bằng hành động và hiệu quả thực tế. Đây là vấn đề đòi hỏi độ trễ rất lớn mà Việt Nam luôn gặp phải, nhất là đối với các lĩnh vực mới chưa có đặc thù, chưa có kinh nghiệm”, ông Thuấn nói.
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng chuyển đổi số cho nền kinh tế cần thực hiện quyết liệt song không cầu toàn, không nóng vội. Cần linh hoạt, rút kinh nghiệm và có đặc thù để đảm bảo thực hiện có hiệu quả, đặc biệt nhiều công cụ quản lý số hoá có liên quan mật thiết đến người dân, doanh nghiệp.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp
GS, TS Hoàng Văn Cường, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế – Tài chính của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh: “Để chuyển đổi mô hình kinh tế sang số hoá, xanh hoá nhằm tạo giá trị tăng trưởng bền vững đòi hỏi chiến lược rõ ràng, KPI cụ thể và áp lực lớn từ trên xuống bộ máy thực thi. Năm 2025, chúng ta đã chuyển đổi lớn về bộ máy và hy vọng năm 2026 trở đi sẽ hiện thực hoá việc vận hành bộ máy mới, cấu trúc mới cho tăng trưởng”;
“Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nếu thực hiện từng bước, từng ngành và theo trình tự thì mất nhiều. Nhưng lộ trình này có thể được cắt giảm nếu chúng ta thực hiện đồng bộ các giải pháp từ cải cách thể chế kinh tế như năm 2025 đã thực hiện và nhiều Nghị quyết lớn, chưa từng có. Lộ trình này đòi hỏi vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, lấy hiệu quả sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo phát triển”, ông Cường nói.
0 Comments