Bản thiết kế tổng thể cho tăng trưởng 2 con số: “Giống như xây nhà mới, cần một bản thiết kế hiện đại”

(Myiq.vn) – Tại cuộc họp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương mới đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã yêu cầu sớm hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Trung ương về giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.

Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết cần xây dựng như “bản thiết kế tổng thể” cho mô hình tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên của Việt Nam đến năm 2045. Nhiều chuyên gia, nhà khoa học thẳng thắn cho rằng, đây là bước đi cụ thể nhằm hoạch định từng bước thực hiện các mục tiêu chiến lược.

Tại Hội nghị, Tổng Bí thư đã chỉ đạo hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Trung ương về giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đây được coi là “bản thiết kế tổng thể” cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số bắt đầu từ năm 2026.

Cần bản thiết kế hiện đại xây ngôi nhà tương lai

Tổng Bí thư yêu cầu: Nghị quyết cần phải là “bản thiết kế tổng thể” cho mô hình tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên của Việt Nam đến năm 2045. Đây là quyết tâm chiến lược, là lựa chọn có tính lịch sử nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển của đất nước. Nhưng sự tăng trưởng đó phải đảm bảo ổn định, có chất lượng, bao trùm, xanh và tự chủ.

Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về dự thảo Nghị quyết của Trung ương về giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên (Ảnh: TTXVN).

Đồng thời, ông khẳng định: Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới phải chuyển đổi căn bản về cấu trúc động lực, hay nói một cách khác là phải thay đổi “động cơ” của nền kinh tế chứ không chỉ đơn thuần là điều chỉnh chính sách vận hành.

Trong đó nhấn mạnh hàng loạt tư duy đổi mới, gồm: Phải tạo sự chuyển biến căn bản về tư duy phát triển trong toàn hệ thống chính trị và xã hội; Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới với thể chế khuyến khích nghiên cứu phát triển. Đặc biệt, Việt Nam không đánh đổi tăng trưởng bằng lạm phát, bong bóng tài sản, nợ công mất kiểm soát.

Theo nhiều nhà kinh tế, học giả, việc xây dựng một bản thiết kế tổng thể cho tăng trưởng 2 con số đến 2045 trong bối cảnh các Nghị quyết về đổi mới toàn diện đất nước như Nghị quyết 60, 68, 57, 79… là rất cần thiết. Bởi lẽ, đây là kịch bản hành động, một bản thiết kế, kiến trúc để thực hiện từng bước, có trọng tâm, trọng điểm và cần sớm xây dựng cụ thể, khoa học, hiện đại và có tính linh hoạt về phương pháp luận để đạt hiệu quả tối đa.

Trao đổi nhanh với PV Dân Việt, TS Bùi Trinh, chuyên gia kinh tế độc lập cho rằng, một bản thiết kế tổng thể giống như khi xây dựng công trình, xây dựng nhà ở cần bản vẽ, kiến trúc, bản thiết kế xây dựng, hệ thống điện, nước, thoát hiểm và các phương án, kịch bản từ tốt xấu, trung bình.

“Chúng ta cần một bản thiết kế khi xây dựng một ngôi nhà mới vừa đáp ứng các tiêu chí vừa không lạc hậu. Công việc rất khó, muốn mọi cái tốt ngay thì chưa được, do đó chúng ta nên làm tốt từng cái đó là xây dựng khung sườn, cơ bản, chiến lược. Còn vật liệu, cách làm, kiểu dáng và cách xây dựng cần linh hoạt hoàn thiện từng giai đoạn”, TS Trinh nêu.

Theo phân tích của ông Trinh, làm kinh tế cũng như bước vào một cuộc thi, trận đánh, có thắng, có bại, có đạt và không đạt. Chúng ta cần chuẩn bị nhiều phương án, đối sách và linh hoạt về phương pháp, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là thắng.

“Chúng ta hãy coi tăng trưởng 2 con số là mục tiêu, kết quả là 2030-2045 trở thành nước công nghiệp, nước phát triển. Việt Nam phát triển vẫn không hy sinh an sinh, không lạm phát, không ô nhiễm,… Từ đầu bài đó, chúng ta đặt ra các phương pháp, cách thức để tổ chức dữ liệu, kêu gọi nhân sĩ, vật lực để cùng phát triển”, ông Trinh phân tích.

TS Bùi Trinh, chuyên gia kinh tế độc lập

Về cơ sở, theo TS Trinh, Việt Nam đã, đang và sẽ hướng đến thay đổi mô hình thể chế quản lý – hành chính sang thể chế phục vụ: “Cởi trói” và “Kiến tạo” – Mô hình này thành công ở các nước có bộ máy hành chính đúng “chất” phục vụ như kiểu Nhật Bản, Singapore, hay các đặc khu kinh tế Hồng Công, Thượng Hải, Thâm Quyến của Trung Quốc.

Ông cho rằng, đó là “chất liệu” của hạ tầng mềm, còn chất liệu hạ tầng cứng, Việt Nam đang đẩy mạnh mọi nguồn lực cho hạ tầng giao thông. Nhận thức này đúng đắn vì mọi con đường đều sinh ra phú quý.

“Việt Nam huy động vốn Nhà nước, tư nhân, thậm chí nước ngoài làm đường giao thông lớn như cao tốc Bắc – Nam, hệ thống đường vành đai các thành phố lớn, các tỉnh cũng được giao toàn quyền quy hoạch đường vành đai. Hệ thống cảng biển được giao cho tư nhân phát triển chúng ta đều biết 3/4 mặt giáp biển là lợi thế lớn của Việt Nam nhưng nhiều năm chưa được khai thác, trong khi lãnh thổ kéo dài, hẹp cũng là khó khăn khiến chi phí vận chuyển tăng cao. Chính vì vậy, kịch bản tổng thể cho tăng trưởng cao phải đi kèm với hoàn thành trục xương sống giao thông để giảm chi phí logistics từ mức xấp xỉ 18% hiện nay xuống dưới 10%. Đây là chìa khóa để hàng hóa Việt Nam cạnh tranh sòng phẳng về giá.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang chạy đua hoàn thiện hạ tầng năng lượng, trong đó có điện tái tạo và hạ tầng internet. Hai tiêu chí quan trọng hàng đầu đảm bảo tăng trưởng cao, bền vững, xanh phục vụ các trung tâm dữ liệu (Data Center) và nhà máy bán dẫn công suất lớn, hệ thống 5G, 6G tiêu tốn năng lượng khổng lồ”, theo TS Trinh.

TP.HCM trong tương lai (Ảnh minh hoạ: AI)

Cần một bản thiết kế linh hoạt với thực tế

Theo TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia Kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM): Nhiều quốc gia đặt mục tiêu tăng trưởng cao, ổn định, bền vững song không phải quốc gia nào cũng thành công. 

Ông Doanh cho rằng, bài học ở đây là tăng trưởng cao phải dựa trên lợi thế nào, lợi thế đó có bền vững, có khác biệt, nổi trội với các quốc gia khác hay không. Từ đó mới hình thành lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh.

Vị chuyên gia lấy ví dụ, Hàn Quốc, Nhật Bản có lợi thế so sánh quốc gia khi cấu trúc quản trị đất nước hiện đại, bộ máy hành chính công phục vụ, lấy đổi mới, sáng tạo và tự lực, tự cường là nền tảng quốc gia phát triển. Chính vì thế, họ có sức tăng trưởng dài hạn trong nhiều thập kỷ, để trở thành quốc gia phát triển, con hổ châu Á.

Việt Nam, khi xây dựng chiến lược 2030-2045, đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xây dựng cho mình các kịch bản tăng trưởng, lấy các yếu tố đổi mới quản trị quốc gia (tiết giảm bộ máy bộ ngành, tinh gọn, sáp nhập địa phương), thúc đẩy kinh tế tư nhân, giải phóng nguồn lực kinh tế Nhà nước và đặc biệt xem khoa học, công nghệ, đổi mới là động lực then chốt, chính cho tăng trưởng cao, bền vững.

Theo chuyên gia, muốn có một kế hoạch đạt kết quả tốt phải chi tiết, tường tận, có kịch bản khác nhau trong một thế giới biến động hằng ngày. Kịch bản hành động cần linh hoạt theo thực tế, thời gian thực nhằm chọn những yếu tố có lợi nhất, hạn chế tối đa bất lợi.

“Các nước muốn thay đổi số phận, đều phải trải qua thời gian “thai nghén”, đổi thay toàn diện. Tôi cho rằng, ý chí của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong năm 2025 đã thể hiện những quyết tâm lớn, giờ là lúc bắt tay vào cùng thực hiện, quyết tâm làm đến cùng dù biết trước khó khăn là rất lớn”, ông Doanh cho hay.

TS Lê Đăng Doanh (Ảnh: Lê Thuý)

Trao đổi với PV Dân Việt, GS Hà Tôn Vinh, chuyên gia Kinh tế – chính trị, người Mỹ gốc Việt cho rằng: Việt Nam có lợi thế là quốc gia đi sau, học được nhiều bài học của các quốc gia lớn khác để tự đúc rút cho mình. Nhưng không phải bài học nào cũng giống nhau và cũng làm theo được, chỉ là mức tham khảo, không áp dụng nguyên mẫu được.

“Việt Nam vốn sẵn dân số trẻ, nguồn lực lớn và đang có tốc độ phát triển internet nhanh hàng đầu châu Á. Hướng tiếp cận của người Việt với bên ngoài là rất cởi mở từ cách nghĩ, đến quan hệ xã hội, làm ăn kinh tế. Việt Nam là nước có quan hệ đa dạng và rất đặc biệt với lợi thế đa phương, do đó dễ dàng tận dụng được các lợi thế toàn cầu mang lại. Đây cũng là gợi ý để chúng ta xây dựng được bản thiết kế tổng thể cho kinh tế trong ngắn, trung hạn và dài hạn”, ông Vinh nêu.

Về kế hoạch, theo GS Hà Tôn Vinh, Tổng Bí thư Tô Lâm và các nhà lãnh đạo Việt Nam đều thể hiện rất rõ ràng ở các Nghị quyết như 68, 57, 79, 60… về đổi mới căn bản, toàn diện từ tư duy phát triển, lẫn quản trị đất nước, thể chế. Mới đây nhất, chúng ta thấy điểm nghẽn của quản trị doanh nghiệp Nhà nước được tháo gỡ trong tư duy: Áp dụng thước đo hiệu quả, hạch toán kinh tế, lấy hiệu quả là thước đo cuối cùng.

“Tư duy này cởi trói cho nhiều lãnh đạo doanh nghiệp thay vì giữ ghế, bảo toàn vốn, chuyển sang đổi mới, sáng tạo để tạo ra hiệu quả cuối cùng, chấp nhận rủi ro, chấp nhận thua lỗ nhưng hiệu quả dự án cuối cùng mang lại là thước đo chính xác nhất”, ông Vinh nêu.

GS, TS Hà Tôn Vinh, chuyên gia kinh tế – chính trị, người Mỹ gốc Việt

Về quan điểm “xóa bỏ tâm lý an toàn, tư duy nhiệm kỳ, cách làm cục bộ, thay bằng tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của Trung ương, địa phương và doanh nghiệp của được Tổng Bí thư đưa ra, GS Hà Tôn Vinh cho rằng: “Muốn cơ chế này phát huy hiệu quả, cần các Luật hoá các vấn đề như: Bảo vệ cán bộ đổi mới, dám nghĩ, dám làm, thậm chí những cán bộ tư tưởng đổi mới vượt ra ngoài cái cũ nhưng có hiệu quả trước thời đại.

GS Vinh cho rằng, luật pháp cần cơ chế khuyến khích cán bộ thể hiện năng lực, đổi mới cách làm thay vì chỉ phục tùng. Luật cũng cần xây dựng KPI sớm đánh giá năng lực cán bộ theo hiệu lực, hiệu quả công việc, đánh giá kết quả cuối cùng.

Cuối cùng, theo ông Vinh: Bản kế hoạch tổng thể cần xây dựng linh hoạt trong phương pháp, cách thức thực hiện, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở đổi mới, sáng tạo, linh hoạt theo diễn biến thời gian thực nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Chỉ cần giữ mục tiêu chiến lược và thước đo hiệu quả cuối cùng.

Post a Comment

0 Comments