Bảo tồn loài voọc quý ở Ninh Bình, kiểm lâm ở tuyến đầu, cộng đồng bản địa là "tai mắt", môi trường sinh thái bền vững

(Myiq.vn) – Sự kết hợp trong thực tiễn triển khai hành động quyết liệt bởi Đội Kiểm Lâm khu vực IV, tỉnh Ninh Bình, cùng sự chung tay góp sức của toàn bộ cộng đồng cư dân bản địa, dân cư địa phương nhằm xây dựng, bảo tồn sự phát triển của loài voọc mông trắng và các động thực vật hoang dã điển hình khác; bảo vệ hệ sinh thái bền vững

Tổ công tác Đoàn Kiểm Lâm – Lực lượng tuyến đầu trong hành trình bảo tồn

Voọc mông trắng là một trong những loài linh trưởng quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam, được sắp xếp vào nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam (2023). Đồng thời là loài nằm trong danh sách các loài bị đe dọa cực kỳ nguy cấp của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).

Loài voọc mông trắng cũng được bảo vệ cao nhất quy định trong các Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và 84/2022/NĐ-CP của Chính phủ.

Voọc mông trắng tại khu đầm ngập nước Vân Long. Ảnh: Nguyễn Hằng. 

Khu vực rừng núi đá vôi Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình (trước đây là Hà Nam) hiện là nơi cư trú của quần thể voọc mông trắng lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long (Ninh Bình).

Số lượng loài voọc tại đây được ước tính khoảng 120–150 cá thể sống theo đàn, một con số rất đáng kể đối với loài linh trưởng đặc hữu và cực kỳ nguy cấp này.

Điểm nổi bật là dải núi đá vôi Kim Bảng không tồn tại biệt lập mà liên kết tự nhiên với các vùng Vân Long, Đồng Tâm, Hương Sơn và Tam Chúc, tạo thành một hành lang sinh thái.

Đây là vùng cảnh quan bảo tồn quan trọng bậc nhất của đồng bằng sông Hồng, đồng thời đóng vai trò kết nối giữa ba địa phương: Ninh Bình – Hà Nội (trước đây là Ninh Bình – Hà Nam – Hà Nội).

Chính vì sự rộng lớn bởi lãnh thổ rừng trên núi cũng gây khó khăn không nhỏ đối với Công tác Kiểm Lâm khu vực IV nhằm mục đích bảo vệ giống loài vooc mông trắng – được coi là một biểu tượng cho du lịch sinh thái nổi bật.

Công tác kiểm tra bảo tồn voọc mông trắng của Đội Kiểm Lâm được triển khai thường xuyên. Ảnh: Nguyễn Hằng.

Cơ quan Kiểm lâm Khu vực IV hiện đang chịu trách nhiệm quản lý hơn 5.000 ha rừng, trong đó phần lớn diện tích là rừng trên núi đá vôi. Đây là loại địa hình đặc thù, có độ dốc lớn, nhiều khe núi sâu và bị chia cắt mạnh, khiến cho việc tuần tra, kiểm soát và bảo vệ tài nguyên rừng gặp nhiều khó khăn.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm phải đối mặt với nhiều thách thức. Quan trọng hơn, tổ công tác còn là cầu nối giữa chính sách bảo tồn và cộng đồng, giúp người dân hiểu rõ giá trị của thiên nhiên và trách nhiệm chung trong việc bảo vệ.

Trước hết, là nguy cơ săn bắt và khai thác trái phép. Các hoạt động như săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ, lấy đá vôi vẫn tiềm ẩn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh cảnh tự nhiên và đặc biệt là quần thể voọc mông trắng quý hiếm.

Bên cạnh đó, áp lực từ phát triển kinh tế – xã hội cũng là một yếu tố đáng lo ngại. Nhu cầu mở rộng sản xuất, xây dựng hạ tầng, cùng với sự gia tăng của các hoạt động du lịch tự phát, tạo ra sức ép lớn đối với công tác bảo tồn rừng. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, những hoạt động này có thể làm suy giảm diện tích rừng và phá vỡ môi trường sống của nhiều loài động vật.

Một khó khăn khác, đó là hạn chế về nhân lực và trang thiết bị. Lực lượng kiểm lâm hiện còn mỏng, số lượng cán bộ ít so với diện tích rừng rộng lớn. Trang thiết bị hỗ trợ tuần tra, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trên địa hình phức tạp. Điều này khiến cho việc phát hiện và xử lý vi phạm gặp nhiều trở ngại.

Một phần núi đá, nơi voọc mông trắng sinh sống. Ảnh: Nguyễn Hằng. 

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trước mắt chúng ta luôn dành tình yêu thương và lòng khen ngợi đối với các cá nhân của đội Kiểm Lâm bởi họ đã luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với thiên nhiên, cố gắng phát huy để có thể bảo vệ được những cá thể vooc mông trắng và các loài động, thực vật hoang dã.

Hiệu quả bền vững: Từ giám sát đến thay đổi nhận thức cộng đồng

Theo Ông Nguyễn Văn Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm khu vực IV, cuối năm 2016, có phát hiện khoảng 40 cá thể voọc, chúng tôi đã thành lập 2 tổ cộng đồng, tổ chức tập huấn để nhận biết các loài cần bảo vệ, kiến thức lâm nghiệp xã hội.

Tinh thần bảo vệ voọc mông trắng hay các loài động vật hoang dã khác đều được bắt nguồn từ tình yêu và tinh thần ham học hỏi, không ngại khó khăn, vất vả. Bởi đây chính là hành trình bảo tồn, giữ gìn những giá trị sinh học tự nhiên.

Theo Ông Bùi Đức Tài – Tổ giám sát vọoc mông trắng, tỉnh Ninh Bình: “Mỗi chuyến đi chúng tôi phải mang thức ăn cho hành trình kéo dài từ 7-10 ngày, từ điểm xuất phát vào lán trại mất 3 tiếng, khi vào đến nhìn thấy chúng đi theo bầy đàn khỏe mạnh, bay nhảy là chúng tôi rất vui, thêm vấn đề tuyên truyền mọi người dân ngày càng được nhận thức rõ ràng càng làm cho chúng tôi yên tâm”.

Nhờ hoạt động kiên trì của tổ công tác, tình trạng săn bắt voọc mông trắng đã giảm rõ rệt. Các khảo sát gần đây cho thấy quần thể voọc tại nhiều khu vực đã ổn định hơn, thậm chí có dấu hiệu phục hồi.

Song song với đó, các chương trình tuyên truyền, giáo dục đã thay đổi nhận thức của người dân: từ chỗ coi voọc là nguồn lợi ngắn hạn, nay họ xem chúng là tài sản chung cần được bảo vệ.

Ông Nguyễn Văn Cường – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm khu vực IV, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Hằng.

Đây chính là hiệu quả bền vững, không chỉ dừng lại ở việc ngăn chặn vi phạm mà còn tạo ra sự thay đổi lâu dài trong tư duy cộng đồng. Theo lời Bà Đinh Thị Oanh, Phường Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình: Nếu ai vào rừng chặt củi các loài, săn bắn động vật, voọc mông trắng, tôi có ý thức nhắc nhở….

Nhờ hành trình quyết liệt trong suy nghĩ và hành động mà ý thức của mọi người dân khu vực ven rừng cũng tốt lên nhờ vào các chương trình giáo dục, tuyên truyên tốt.

Tình yêu của Đội Kiểm Lâm khu vực IV được triển khai thành những hành động quyết liệt và đã thu lại được những kết quả đáng mong đợi. Mỗi tháng Đội công tác được phân công kiểm tra tại 2 khu vực phường Tam Chúc và Lý Thường Kiệt.

Nhờ tình yêu thương sâu sắc và hành động thiết thực mà những chiếc bẫy sắc bén được thay thế bằng các sự phát triển ổn định của đàn voọc và các loại động thực vật sinh học khác. Tuy nhiên, dù đã đạt được những kết quả khích lệ và hướng đến tương lai thành lập khu bảo tồn có diện tích lớn 3182 ha – đây là cơ chế bảo vệ chặt chẽ hơn cho ngôi nhà của loài voọc.

Bài học nhân rộng: Mô hình cộng đồng đồng hành cùng thiên nhiên

Từ những hành động thiết thực từ những người Kiểm Lâm khu vực IV, họ còn mang đến cơ hội cho người dân được khuyến khích tham gia các hoạt động như du lịch sinh thái, dịch vụ cộng đồng, trồng rừng và phát triển sản phẩm địa phương.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nhắc nhở người dân phải luôn nâng cao ý thức bảo tồn những giá trị nguyên sơ ban đầu, không dung túng cho các hành vi kinh doanh, buôn lậu săn bắn trái phép.

Những sáng kiến này vừa tạo thu nhập ổn định, vừa giảm áp lực khai thác tài nguyên. Nhờ được tạo điều kiện như vậy, nhiều hộ gia đình đã chuyển từ săn bắt sang làm hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu cho du khách về voọc mông trắng và cảnh quan núi đá vôi. Nhờ đó, bảo tồn không còn là gánh nặng, mà trở thành cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng.

Mô hình tổ công tác bảo tồn voọc mông trắng hay là các loài động thực vật hoang dã khác đã chứng minh rằng sự tham gia trực tiếp của cộng đồng là yếu tố quyết định để bảo tồn thành công.

Đội Kiểm Lâm tiến hành tuyên truyền các công tác bảo tồn thông qua các dụng cụ được dùng khi đi rừng. Ảnh: Nguyễn Hằng.

Không chỉ dừng lại ở việc tuần tra, giám sát, các tổ công tác còn tạo ra sự thay đổi trong nhận thức của người dân: từ chỗ coi thiên nhiên là nguồn lợi ngắn hạn, nay họ xem đó là tài sản chung cần gìn giữ cho thế hệ mai sau.

Điểm đặc biệt của mô hình này là tính bền vững. Khi cộng đồng được trao quyền và có lợi ích gắn liền với bảo tồn, đó là thông qua sinh kế xanh, du lịch sinh thái, hay phát triển sản phẩm địa phương họ sẽ chủ động bảo vệ thiên nhiên thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng chuyên trách. Chính sự đồng hành này giúp công tác bảo tồn không bị gián đoạn, mà trở thành một phần trong đời sống thường ngày của người dân.

Vì vậy, chúng ta nên gắn liền bảo tồn cả một cộng đồng chứ không phải là những cá nhân đơn lẻ, không thể thành công nếu chỉ dựa vào chính sách hay lực lượng kiểm lâm.

Cần nhân rộng mô hình cộng đồng đồng hành cùng thiên nhiên sang các khu vực khác, đặc biệt là nơi có loài nguy cấp. Khi cộng đồng trở thành chủ thể bảo tồn, hiệu quả đạt được sẽ lâu dài và có khả năng lan tỏa, tạo thành mạng lưới bảo vệ đa dạng sinh học trên phạm vi rộng.

Công tác bảo tồn voọc mông trắng và các dòng đồng thực vật xanh không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ một loài linh trưởng quý hiếm hay một hệ thực vật đặc thù, mà còn là hành động gìn giữ toàn bộ hệ sinh thái núi đá vôi, vốn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.

Post a Comment

0 Comments