(Myiq.vn) – Nhà văn Xuân Phượng – tác giả lớn tuổi nhất trong Lễ trao giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ 8 đã có những trải lòng về cuộc đời mình qua những trang sách.
Mới đây, “nhà văn trẻ” Xuân Phượng đón nhận tin vui khi hồi ký Gánh gánh gồng gồng được trao giải B và giải Sách được bạn đọc yêu thích tại Lễ trao giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ 8.
Đây không phải là lần đầu tiên cuốn hồi ký của nhà văn Xuân Phượng được xướng tên ở những giải thưởng lớn bởi ngay từ khi ra mắt Gánh gánh gồng gồng đã đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn TP.HCM cùng một số giải thưởng khác.

Trở về từ Hà Nội, nhà văn Xuân Phượng đã dành cho Dân Việt một buổi trò chuyện.
Ra mắt đã được gần 6 năm, đến nay hồi ký Gánh gánh gồng gồng mới được xướng tên ở giải thưởng Sách quốc gia lần thứ 8. Cảm xúc của bà ra sao?
– Trước khi nhận giải, tôi khá bất ngờ khi anh Trần Đình Ba – Phó Giám đốc NXB Tổng hợp, đến thăm và nói nhà xuất bản muốn in thêm 2.000 cuốn dạng bìa cứng. Cuốn sách đã ra đời 6 năm mà vẫn được bạn đọc tìm đến khiến tôi rất vui và nghĩ chắc đang có điều gì đó đặc biệt xảy ra.
Sau đó, một cô biên tập tên Mi gọi hỏi tôi có thể ra Hà Nội không, nhưng không nói rõ lý do. Lúc ấy tôi vừa mổ xong nên còn mệt nhưng sự bí mật ấy càng khiến tôi đoán rằng cuốn sách có tin vui.
Đến khi nhận được giấy mời của Hội Xuất bản Việt Nam dự lễ trao giải ở Hà Nội, tôi mới nghĩ có lẽ mình được trao một giải thưởng nào đó. Tối hôm ấy, tại trường quay VTV1, khi nghe xướng tên giải B, tôi mới chắc chắn mình nhận Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ 8 năm 2026.
Bất ngờ hơn, sau đó BTC lại xướng tên tôi và tác phẩm ở Giải sách được bạn đọc yêu thích. Khi nghe đến giải thưởng thứ hai, tôi đã rơi nước mắt.
Với tôi, việc cuốn sách sau 6 năm vẫn được bạn đọc khắp nơi yêu mến và bình chọn là phần thưởng chạm đến trái tim sâu sắc nhất. Lúc ấy, tôi nghĩ rằng, mong muốn khi viết sách năm 2020 đã thành hiện thực: cuốn sách không chỉ dành cho những người từng trải qua chiến tranh như tôi, mà còn đến được với những bạn trẻ chưa từng biết đến chiến tranh.
Vì vậy cảm xúc lớn nhất của tôi là lòng biết ơn. Biết ơn cha mẹ đã cho tôi con đường học vấn. Biết ơn NXB và các biên tập viên đã kiên nhẫn giúp cuốn sách ra đời. Biết ơn nhà văn Hồ Anh Thái đã động viên, biên tập và khích lệ tôi viết, dù tôi bắt đầu viết sách khi đã 90 tuổi và ra sách năm 93 tuổi mà mọi người hay gọi đùa là “nhà văn trẻ tuổi 93”.

Cuối cùng, tôi biết ơn độc giả, cả người lớn tuổi lẫn các bạn trẻ, đã quan tâm đến câu chuyện đời của một người phụ nữ trải qua gần một thế kỷ. Tôi không nói điều này để khoe, nhưng tôi thật sự tự hào vì đã sống đúng con đường mình chọn và làm được những điều mình mong muốn.
Ngoài những giải thưởng chuyên môn thì phải mất 6 năm cuốn sách mới nhận được giải thưởng này, bà có thấy muộn không?
– Tôi phải nói rằng, nếu 10 năm nữa tôi mới được giải, tôi vẫn thấy đó là đúng lúc. Nếu càng để lâu mà cuốn sách vẫn được độc giả yêu thích thì càng hạnh phúc hơn.
Dù đây là hồi ký cá nhân nhưng có thể nói nó như là câu chuyện của cả một đất nước. Bà mong các bạn trẻ nhìn cuốn sách này như thế nào?
– Tôi có mấy đứa cháu nội, bây giờ cũng khoảng 30–40 tuổi. Ngày trước, khi ngồi ăn cơm mà thấy chúng nó bỏ thừa thức ăn, tôi hay kể: “Hồi xưa bà thế này thế kia…”. Nhưng chúng nó thường lảng đi, không nghe nữa, có khi tìm cách trốn luôn.
Khi cuốn sách ra đời, tôi cũng không biết các cháu có đọc không, vì chúng không nói gì cả. Tôi nghĩ chắc chúng cho rằng đó chỉ là chuyện của quá khứ.
Trước khi cuốn sách ra mắt, rất ít bạn trẻ đến gặp tôi. Phần lớn là những người cùng thế hệ, hoặc trẻ hơn một chút – khoảng bảy tám mươi tuổi thôi.
Cho đến khi cuốn sách đến tay bạn đọc, tôi gửi sách sang Mỹ cho các cháu của tôi ở bên đó. Chúng sinh ra ở Mỹ, tiếng Việt đọc chưa thật sõi nên cũng không phản hồi.

Nhưng khi cuốn sách bắt đầu có tiếng vang, tôi gọi các cháu đang ở Việt Nam bảo: “Các con đọc thử đi”. Dần dần tôi thấy chúng bắt đầu chú ý đến cuộc đời của một người phụ nữ Việt Nam sống từ đầu thế kỷ 20 đến tận hôm nay.
Có một cháu nội của tôi đã nói: “Bà ơi, bây giờ con mới hiểu giá trị của hòa bình. Con mới thấy để có được cuộc sống yên bình hôm nay đã phải trả giá bằng bao nhiêu sự hy sinh. Trước đây con không để ý, nhưng đọc sách của bà, con cảm thông rất nhiều. Con tự hào vì là cháu của bà và là một người Việt Nam. Con sẽ sống xứng đáng với cuộc sống mà bà đã trải qua”.
Những lời nói như vậy đem lại cho tôi niềm vui vô cùng. Sau đó cũng có rất nhiều bạn đọc trẻ tìm đến gặp tôi, ôm tôi, chụp ảnh, phỏng vấn, tặng hoa, chúc mừng. Tôi cảm nhận được tình cảm rất chân thành của họ.

Có thể họ yêu quý tôi một phần vì tôi đã quá lớn tuổi, một phần vì tôi giống như một người bà. Nhưng tôi cũng cảm nhận rất rõ rằng cuốn sách đã giúp họ cảm thấy tự hào hơn khi là người Việt Nam.
Trong cuốn hồi ký, bà kể mình đã đi qua những giai đoạn, nghề nghiệp gắn liền với lịch sử đất nước. Nếu chọn một giai đoạn bà muốn nhắc lại nhiều nhất với thế hệ sau, bà sẽ chọn giai đoạn nào?
– Có lẽ câu trả lời của tôi sẽ làm bạn thất vọng bởi vì đoạn đường nào trong cuộc đời tôi cũng có những nỗi xót xa, lo lắng, buồn rầu. Nhưng vượt lên trên tất cả những điều đó, tôi cảm thấy hài lòng với sự lựa chọn của mình.
Tôi hài lòng vì mình đã đi đúng con đường mà mình đã quyết định, dù con đường ấy không phải lúc nào cũng đúng. Bởi lẽ, tôi cũng từng sai lầm, từng bị lừa nhiều lần, từng bị nói xấu, từng gặp rất nhiều khó khăn. Đó là cách sống mà tôi theo suốt cuộc đời.
Cho nên nếu hỏi tôi thích giai đoạn nào nhất thì thật khó nói. Giai đoạn nào cũng có niềm vui, nỗi buồn, có cái hay và nỗi đau. Nhưng khi nhìn lại, tôi có thể nói rằng, lúc ấy mình đã đủ can đảm để đi theo con đường mình tin tưởng.

Khi đọc hồi ký có thể thấy có rất nhiều nỗi đau: về sự chia ly, những mất mát trong tình cảm, cuộc sống. Bà từng nói, có những nỗi đau bà không thể nói ra được. Vậy đến hiện tại bà đã đủ can đảm để chia sẻ?
– Bạn phóng viên này khá tinh quái đấy. Bạn muốn biết những bí mật trong cuộc đời tôi. Nhưng có những điều tôi không thể nói ra được. Không phải vì tôi, mà vì những người khác, những người vẫn còn sống, và vì con cháu của họ. Vì thế tôi muốn giữ lại cho riêng mình. Và khi một người như tôi, đã trải qua bao nhiêu chuyện sống chết mà đã quyết định không nói, thì dù bạn có khéo hỏi đến đâu, tôi cũng không nói đâu.
Vậy với những nỗi đau mà bà đã viết trong sách, bà đã đối diện và bước qua chúng như thế nào?
– Nếu bạn đem câu hỏi này hỏi một cô gái 20 tuổi, có lẽ cô ấy cũng trả lời giống tôi thôi. Khi đau khổ thì mình đau khổ thật sự. Khi vui thì mình vui hết mình. Khi buồn thì cũng có thể bỏ ăn, mất ngủ, day dứt. Đó là tâm trạng rất bình thường của con người, không có gì đặc biệt cả.

Chúng ta đều là những con người bình thường. Điều quan trọng không phải là mình có đau hay không, mà là mình vượt qua như thế nào. Nếu bất kỳ ai muốn hiểu điều đó, hãy đọc cuốn sách thêm nhiều lần. Khi đọc, hãy tự đặt mình vào hoàn cảnh ấy và nghĩ xem sẽ vượt qua ra sao.
Tôi cũng muốn nói thêm một điều rằng đừng tìm ở tôi những điều phi thường. Tôi chỉ là một người đàn bà rất bình thường. Chính vì là một người bình thường mà vẫn đi qua được từng ấy khó khăn, nên có lẽ câu chuyện của tôi mới có thể khiến người khác xúc động.

Bên cạnh nỗi đau của sự chia ly, bà cũng dành tới 29 lần nhắc đến sự đoàn tụ. Có lẽ bởi vì khi đã mất đi rồi thì người ta mới thấy quý. Vậy khi viết về những lần đoàn tụ ấy, bà cảm nhận điều đó như thế nào?
– Bạn vừa nhắc đến một kỷ niệm mà thật ra tôi muốn quên. Mẹ tôi xuất thân từ gia đình quan lại ở Huế, được nuôi dạy theo nề nếp phong kiến, biết đàn, hát, nấu ăn… đầy đủ “công dung ngôn hạnh”. Khi tôi khoảng 10 tuổi ở Đà Lạt, buổi tối trời lạnh, hai mẹ con nằm trong chăn, tôi thường nhìn mẹ ngồi đàn đàn tranh. Tiếng đàn dịu dàng, sâu lắng, chạm sâu vào cảm xúc của tôi. Hình ảnh mẹ mặc áo lụa màu ngà cũng in sâu trong trí nhớ.

Sau này đi kháng chiến, nằm trong rừng, địa đạo, hay nhìn máy bay Mỹ trên trời, đôi khi trong đầu tôi vang lên tiếng đàn ấy. Tiếng đàn như một điểm tựa, nhắc nhở tôi rằng nơi đâu đó vẫn có mẹ mong mình và đời không chỉ có bom đạn mà còn điều dịu dàng. Ký ức về khu vườn nhà với mít, nhãn, mận, đào cũng trở nên vô cùng quý giá.
Kỷ niệm về mẹ như một đám mây: nhẹ mà sâu. Khi đất nước đổi thay, mẹ sang Mỹ sống. Gần nửa thế kỷ sau, tôi về thăm bà, mẹ gần 90 tuổi, nằm liệt trên giường, không nói được. Khi tôi nắm tay bà, bà chỉ bóp nhẹ hai lần – tôi hiểu mẹ đã biết tôi trở về. Cảm giác ấy đau xót đến mức tôi ít khi kể lại. Điều đau đớn nhất đời tôi là sau khi rời gia đình, tôi không còn được chăm sóc mẹ một ngày nào nữa.
Cảm ơn nhà văn Xuân Phượng đã chia sẻ thông tin.
(Còn tiếp)
0 Comments