"Tam nông" Nghệ An, Tuyên Quang đổi mới nhờ loạt chính sách sau Hội nghị Thủ tướng đối thoại với nông dân

(Myiq.vn) – Theo báo cáo của Hội Nông dân tỉnh Nghệ An, Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang, sau Hội nghị Thủ tướng Chính phủ đối thoại với nông dân Việt Nam năm 2024, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính, chính quyền địa phương đã có nhiều chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Từng bước hình thành nền nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, gắn với chuỗi giá trị và chuyển đổi số

Theo báo cáo của Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang, để thực hiện các giải pháp hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, phát triển liên kết vùng, khơi dậy khát vọng làm giàu để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững tin bước vào kỷ nguyên mới theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, UBND tỉnh Tuyên Quang luôn quan tâm, chỉ đạo các sở, ban, ngành trong tỉnh cụ thể hóa chủ trương, chính sách thành các nội dung triển khai nhằm hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp, nông thôn về chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái, hình thành các vùng liên kết.

Trong đó, Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục đến cán bộ, công chức, hội viên, nông dân không ngừng học tập nâng cao kiến thức; phổ biến, tư vấn pháp luật. Các cấp Hội đã tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng cho 17.630 lượt là hội viên nông dân xuất sắc, nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, giám đốc hợp tác xã, thành viên tổ hợp tác, chi hội nông dân nghề nghiệp, tổ hội nông dân nghề nghiệp; hỗ trợ thực hiện 228 dự án với 1.444 lượt hộ vay tổng dư nợ đạt trên 70 tỷ đồng, công tác quản lý, cho vay, thu hồi vốn được thực hiện đúng quy trình, quy định.

Người dân xã Tiên Nguyên (Tuyên Quang) quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP. Ảnh: Báo Tuyên Quang.

Thường xuyên phối hợp cùng các sở, ban, ngành tuyên truyền chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao trong sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững cho trên 138.850 hội viên, nông dân; hướng dẫn trên 54.705 hội viên cài đặt, kích hoạt và sử dụng Nền tảng số Nông dân Việt Nam.

Nhờ sự vào cuộc tích cực của các cấp ngành, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng chuyên sâu, xây dựng thành công chất lượng, thương hiệu một số sản phẩm chủ lực, đặc sản của tỉnh (bò vàng, mật ong Bạc Hà, cá bỗng, chè Shan tuyết, lúa đặc sản chất lượng cao, cam, bưởi…).

Toàn tỉnh đã phê duyệt 2.494 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, với tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã giải ngân đạt hơn 940 tỷ đồng. Đến nay toàn tỉnh hiện có 454 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 2 sản phẩm hạng 5 sao, 1 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 25 sản phẩm hạng 4 sao và 426 sản phẩm hạng 3 sao.

Trong công tác chuyển đổi số, hiện Tuyên Quang có 1.070 doanh nghiệp đăng ký tham gia sàn thương mại điện tử tỉnh Tuyên Quang với 2.613 sản phẩm về nông, lâm, thủy sản, sản phẩm OCOP, dịch vụ du lịch, lữ hành,… phục vụ khách hàng trên toàn quốc, các sàn thương mại điện tử; mô hình chợ 4.0 tại các địa phương trên địa bàn tỉnh giúp người dân trải nghiệm và tiếp cận với các phương thức thanh toán hiện đại không dùng tiền mặt, kích thích hoạt động mua sắm.

Về hỗ trợ phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch và xúc tiến thương mại, hiện nay trên địa bàn tỉnh đã và đang khai thác 34 làng văn hóa du lịch cộng đồng, 14 làng đã hoàn thiện các tiêu chí “Làng văn hóa du lịch tiêu biểu” được UBND tỉnh công nhận. Trong đó có 9 làng tham gia chương trình đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP của tỉnh đạt từ 3 đến 4 sao.

Nhìn chung, sau Hội nghị Thủ tướng Chính phủ đối thoại với nông dân, UBND tỉnh Tuyên Quang đã kịp thời chỉ đạo các sở, ban, ngành của tỉnh phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân tỉnh về việc thực hiện các giải pháp hỗ trợ nông dân, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn bền vững, chủ động, sáng tạo, linh hoạt triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nông dân, góp phần thúc đẩy quá trình phục hồi, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, nâng cao đời sống và vị thế của người nông dân.

Nhờ đó, Tuyên Quang đang từng bước hình thành nền nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, gắn với chuỗi giá trị và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu “Nông nghiệp xanh – Nông thôn hiện đại – Nông dân văn minh”.

Đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị đảm bảo năng lực cảnh báo, dự báo, khả năng chống chịu trước thiên tai

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ sau Hội nghị Thủ tướng Chính phủ đối thoại với nông dân năm 2024, công tác lãnh đạo, chỉ đạo được triển khai đồng bộ, xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cơ sở, với nhiều chủ trương, cơ chế và chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ nông dân, thúc đẩy phục hồi và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, tỉnh Nghệ An đã chủ động ban hành các văn bản cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thời các chính sách của Trung ương trên địa bàn tỉnh, tạo động lực cho bà con nông dân yên tâm ổn định diện tích sản xuất và thúc đẩy đầu tư sản xuất.

Sau Hội nghị Thủ tướng đối thoại với nông dân, tỉnh Nghệ An đã chủ động ban hành các văn bản cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thời các chính sách của Trung ương trên địa bàn tỉnh, tạo động lực cho bà con nông dân yên tâm ổn định diện tích sản xuất và thúc đẩy đầu tư sản xuất. Ảnh: Báo Nghệ An.

Báo cáo của Hội Nông dân tỉnh Nghệ An cho thấy, các cấp Hội Nông dân đã chú trọng tuyên truyền, giáo dục hội viên, nông dân học tập nâng cao kiến thức; đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, vận động, hướng dẫn nông dân tiếp cận với sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học để nâng cao chất lượng nông sản, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, góp phần nâng cao đời sống cho hội viên, nông dân.

Thời gian qua, ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường. Đặc biệt, trong năm 2025, tỉnh Nghệ An đã hứng chịu hai cơn bão số 5 và số 10 với cường độ rất mạnh, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.

Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng với sự vào cuộc đồng bộ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành và sự nỗ lực vượt khó của bà con nông dân, giúp ngành nông nghiệp tỉnh nhà tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng trưởng sản phẩm ngành nông nghiệp bình quân giai đoạn 2021 – 2025 ước đạt trên 4,65%/năm (tốc độ tăng trưởng toàn ngành năm 2025 ước đạt trên 5%).

Đến nay, toàn tỉnh có 684 sản phẩm OCOP đạt hạng 3 sao trở lên (bao gồm 638 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm đạt 4 sao, 3 sản phẩm đạt 5 sao). Đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định và cải thiện đời sống cho người dân khu vực nông thôn.

Trong năm 2025 đã có 3 sự án liên kết sản xuất theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ được phê duyệt hỗ trợ, nâng tổng số dự án/kế hoạch liên kết được phê duyệt hỗ trợ đến nay trên địa bàn tỉnh là 40 dự án/kế hoạch liên kết với tổng số hộ dân tham gia liên kết là 16.121 hộ, tổng quy mô thực hiện liên kết là 4.396 ha.

Thông qua thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghệ An đã xây dựng được nhiều vùng nguyên liệu tập trung, gắn với chế biến xuất khẩu, tăng giá trị nông sản, tạo sự phát triển bền vững trong nông nghiệp, nông thôn và thủy sản như: Vùng nguyên liệu chè ở các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Kỳ Sơn, vùng nguyên liệu mía ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu…, nguyên liệu thủy sản (tôm) xuất khẩu ở các huyện ven biển,…

Các chính sách đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp chuyển nhanh sang nông nghiệp hàng hóa, tập trung quy mô lớn; ứng dụng công nghệ cao… tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có thị trường tiêu thụ tốt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã giúp người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới giảm bớt khó khăn, tạo thêm việc làm, có điều kiện để đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống. Đối tượng thụ hưởng chính sách chủ yếu là hộ gia đình, trong đó vai trò của người phụ nữ đặc biệt quan trọng. Các chính sách đã góp phần đảm bảo thực hiện bình đẳng giới, giúp người phụ nữ có điều kiện hơn trong sản xuất kinh doanh đảm bảo cuộc sống gia đình.

Trong thời gian tới, tỉnh Nghệ An xác định tiếp tục cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường theo hướng hiệu quả, bền vững. Tiếp tục cơ cấu lại nông nghiệp theo các nhóm sản phẩm chủ lực và vùng sinh thái của tỉnh để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và chế biến; chú trọng gắn phát triển sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu; khuyến khích hình thành các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ khép kín, phát triển các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao, liên kết với doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm.

Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn, nhất là các chính sách hướng đến ứng dụng công nghệ cao; nâng cao chất lượng xây dựng, tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm, tính khả thi, nhất là các cơ chế chính sách về khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nông nghiệp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng xu hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Nghiên cứu, ban hành chính sách đặc thù thu hút nguồn nhân lực có trình độ khoa học – kỹ thuật cao từ các trung tâm, viện nghiên cứu, các trường đại học thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn về làm việc hoặc hỗ trợ kỹ thuật cho tỉnh. 

Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững; tăng cường huy động nguồn lực xây dựng hạ tầng sản xuất nông nghiệp, nhất là các công trình, dự án phục vụ cơ cấu lại nông nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu; ưu tiên phát triển hệ thống giao thông, điện cho vùng sản xuất tập trung, kết nối vùng sản xuất với chế biến, thị trường tiêu thụ.

Đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị đảm bảo năng lực cảnh báo, dự báo, khả năng chống chịu trước thiên tai. Nâng cấp trang thiết bị, công nghệ theo dõi, phân tích, dự báo, cảnh báo thiên tai, ứng dụng công nghệ dự báo tiên tiến. Đầu tư củng cố, nâng cấp các công trình phòng chống thiên tai nhất là hệ thống đê điều, cống, đập ngăn lũ. Xây dựng, củng cố hệ thống công trình phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển tại các khu vực xung yếu, kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, ứng phó thiên tai để phục vụ sản xuất, dân sinh và các hoạt động kinh tế khác.

Thúc đẩy các mô hình liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân nhằm nâng cao năng lực và kiến thức, kinh nghiệm quản lý vận hành hiệu quả các mô hình. Khuyến khích doanh nghiệp và người sản xuất ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới (tự động hóa, số hóa, công nghệ sinh học, IoT, AI, dữ liệu lớn) trong lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và kết nối cung – cầu, kết nối sản xuất – tiêu dùng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm. 

Tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết hình thành vùng ứng dụng công nghệ cao, với các nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao; ưu tiên hình thành các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, quản trị tiên tiến, đủ sức tổ chức liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu các sản phẩm nông sản có lợi thế của tỉnh. Phát triển hệ thống thông tin thị trường nông sản. Nâng cao năng lực dự báo, đánh giá, cảnh báo thông tin về thị trường nông sản để kịp thời cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp và người dân chủ động điều chỉnh sản xuất phù hợp với yêu cầu thị trường.

Post a Comment

0 Comments